Chào mừng bạn đến với KST !
Bạn chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy bạn chỉ có thể xem các bài viết mà không thể gửi bài trả lời, đặt câu hỏi hoặc tham gia nhiều hoạt động khác trên diễn đàn.
Hãy đăng ký thành viên tại đây, hoàn toàn nhanh chóng, đơn giản và miễn phí.
Chúc bạn một ngày làm việc thành công và tìm được nhiều thông tin bổ ích tại KST!
In chủ đề Gửi bài trả lời mới

Góc Hà Nội

Góc Hà Nội

Đề tựa:

Hà Nội từ xưa tới nay vẫn luôn luôn là đặc trưng của Việt Nam ta.Nói tới VN là nghĩ ngay tới HN,giọng HN,người HN.HN thanh tao,dịu dàng,đằm thắm,cổ xưa.Tôi nghĩ phần lớn mọi người cảm nhận như vậy.HN có những nét rất riêng,đi vào tim của mỗi người bằng những lí do cũng rất riêng:

"Hà Nội trái tim ta như một cô gái xinh đẹp
Dịu dàng bước với tôi trong điệu tango rộn rã
Làn gió Hồ Tây ru hồn ta ngất ngây
Sắc nước hương trời ru tình ta đắm say.."

       (Bản tango Hà Nội)

"Hà Nội mùa thu tràn nỗi nhớ
Không bởi vì em hay vì em "

       (     Đoản khúc Thu Hà Nội   )

Từng con phố,nẻo đường dễ dàng khắc ghi kỉ niệm

"Con đường vắng rì rào cơn mưa nhỏ
Ai đó chờ ai tóc xõa vai mềm"

       (Em Ơi, Hà Nội Phố)




Tôi ra HN hè rồi.10 năm trước cũng ở HN.Sự chuyển mình của HN thật ngoài sức tưởng tượng của tôi.Cái hồ sen đã biến mất, câu hát " Dù có đi bốn phương trời, lòng vẫn nhớ về Hà Nội... "  cũng không còn vang lên mỗi buổi sáng.Cũng có chút hụt hẫng,bâng khuâng nhưng không làm tôi thất vọng.HN đổi mới chứ không thay đổi.Vẫn còn đâu đó những hoài niệm xưa...

Sơ Lược Lịch sử Hà Nội




Dải đất nay là Hà Nội có dân cư từ vài ngàn năm trước nhưng cái tên gọi Hà Nội thì chỉ có từ năm 1831. Nguyên là từ năm 1010, vua Lý Thái Tổ dời đô ra thành Ðại La, đổi gọi thành này là kinh đô Thăng Long. Kinh đô ngày ấy ứng với quận Hoàn Kiếm và một phần của hai quận Ðống Ða, Hai Bà Trưng ngày nay. Sau đó địa giới Thăng Long dần mở rộng và tới cuối thế kỷ 18 thì tương ứng với năm quận nội thành bây giờ. Năm 1802, nhà Nguyễn lên ngôi dời đô về Huế, Thăng Long không còn là Kinh đô nữa và ít lâu sau bị đổi gọi là phủ Hoài Ðức.

Năm 1831, có một cuộc cải cách hành chính lớn: xoá bỏ các trấn, thành lập các tỉnh. Từ đó ra đời tỉnh Hà Nội. Sở dĩ có tên gọi này vì tỉnh mới nằm trong (nội) hai con sông (hà) là sông Hồng và sông Ðáy, gồm có 4 phủ, 15 huyện. Tỉnh lị đặt tại thành Thăng Long cũ, do vậy Thăng Long được gọi là tỉnh thành Hà Nội rồi nói gọn lại là Hà Nội.

Năm 1883, Pháp chiếm đóng Hà Nội. Năm 1886 họ thành lập "thành phố Hà Nội", ban đầu chỉ có 3 km2, đến năm 1939 là 12 km2 với số dân là 30 vạn.

Trở lại cái ngày Lý Thái Tổ định đô mới, truyền thuyết có kể rằng khi vua Lý tới bến sông Cái (một tên gọi khác của sônh Hồng), thì có con rồng vàng hiện trên sông rồi bay lên cao. Vua cho là điềm lành, đặt tên kinh đô mới là Thăng Long (Rồng lên). Câu chuyện "Rồng lên" đó nói lên khí thế vươn mình của thủ đô mới đang bước lên vũ đài lịch sử, gánh vác sứ mệnh làm trái tim của một quốc gia đã có mấy nghìn năm dựng nước.

Cũng từ đây Thăng Long ghi nhiều chiến công hiển hách!

Thế kỷ 13, Thăng Long ba lần "thành không nhà trống" dồn quân xâm lược nhà Nguyên vào thế bị đói, bị động, để rồi bị quét sạch ra khỏi bờ cõi.

Tới đầu thế kỷ 15, đất nước lại một phên chao đảo. Thăng Long lại trở thành điểm quyết chiến tối hậu chống quân xâm lược. Sau mười năm khởi nghĩa, năm 1427 Lê Lợi đưa đại quân về Thăng Long vây chặt quân Minh xâm lược. Bị áp đảo trước khí thế và sức mạnh của nghĩa quân, binh tướng nhà Minh phải thề ở cổng thành phía Nam, xin đầu hàng và được phép rút toàn bộ quân sĩ về nước.

Tới cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, lại chính Thăng Long là nơi người anh hùng "áo vải cờ đào" Nguyễn Huệ ghi nhiều chiến công, mà hiển hách nhất là chiến thắng Ðống Ða năm 1789. Với cuộc hành quân thần tốc, mùng 5 Tết năm ấy, nghĩa quân Tây Sơn đã đánh tan 30 vạn quân lính Mãn Thanh xâm lược. Và trong chiến thắng đó có phần đóng góp của người dân Thăng Long.

Sang đầu thế kỷ 19, nhà Nguyễn (từ năm 1802 - 1945) đóng đô ở Huế. Thăng Long trở thành lỵ sở của tỉnh Hà Nội. Nhưng Hà Nội vẫn là nơi văn vật nhất nước, là thành phố đứng đầu cả nước về nghệ thuật, về công nghiệp, về thương nghiệp, về văn hóa. . . Tóm lại, đây chính là trái tim của cả dân tộc.

Khi thực dân Pháp đánh chiếm Việt Nam, chính ở Thành Hà Nội, giặc Pháp đã vấp phải sức phản kháng mạnh mẽ nhất. Ngưòi Hà Nội liên tiếp đứng lên chống lại ách đô hộ. Ðỉnh cao của phong trào chính là ngày 19/8/1945, Hà Nội khởi nghĩa lập chính quyền cách mạng, mở đầu cho tổng khởi nghĩa trên phạm vi toàn quốc. Nửa tháng sau, ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Ðình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn độc lập, chính thức khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.

Nhưng thực dân Pháp lại xâm lược Việt Nam lần thứ hai. Thế là ngày 19/12/1946 quân và dân Hà Nội nhất tề đứng lên đánh Pháp mở đầu cho giai đoạn toàn quốc kháng chiến dài tới 9 năm. Ngày 7/5/1954 chiến thắng Ðiện Biên Phủ, quân Pháp hoàn toàn thất bại. Năm tháng sau, 10/10/1954 Hà Nội được giải phóng và Hà Nội vẫn là trái tim của đất nước Việt Nam và Hà Nội đã chi viện hết sức mình cho miền Nam đánh Mỹ, trong khi đó vẫn không ngừng đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và cũng trực tiếp chống Mỹ khi Mỹ thực hiện kế hoạch leo thang ra miền Bắc.

Năm 1965, Hà Nội quyết liệt đánh trả cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ bằng không quân. Ðặc biệt 12 ngày đêm cuối năm 1972, Hà Nội đã đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng không quân lớn nhất của đế quốc Mỹ, làm nên trận "Ðiện Biên Phủ trên không" lừng lẫy, và cùng với cả nước buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Ðến năm 1975, với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất toàn vẹn. Tháng 7/1976 tại kỳ họp đầu tiên Quốc hội khoá VI, Quốc hội thống nhất quyết định lấy Hà Nội là thủ đô nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

LỊCH SỬ THĂNG LONG - HÀ NỘI


Kể từ khi Thái tổ Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư ra thành Ðại La để thánh địa ấy mang cái tên mới Thăng Long đã sắp trọn một thiên kỷ. Hà Nội là kinh đô của ba vương triều hiển hách Lý - Trần - Lê và nay là thủ đô nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Trải qua bao thăng trầm, binh lửa và xây dựng, Thăng Long - Hà Nội ngày càng lớn cao với vị trí thiêng liêng của nó - trái tim của nước Việt Nam hôm qua và mãi mãi.

THĂNG LONG THỜI LÝ

Khi nhà Đinh, nhà Tiền Lê làm tròn nhiệm vụ lịch sử của mình (củng cố độc lập dân tộc, khôi phục thống nhất quốc gia) thì Hoa Lư cũng vừa xong sứ mệnh lịch sử của một Thủ đô thời kỳ đầu khi đất nước giành lại độc lập. Độc lập tổ quốc đã được thử thách và vững vàng hơn. Những tiền đề cần thiết cho bước nhảy vọt về kinh tế, phát triển huy hoàng về văn hoá đã được chuẩn bị qua các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê. Năm 1009, Lý Công Uẩn lên ngôi đã mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử dân tộc. Với nhãn quan chính trị xuất sắc của mình, nhà vua đã nhận ra vị thế đắc địa của thành Đại La.
Mùa thu tháng bảy năm Canh Tuất (1010), vua đầu triều Lý quyết định dời đô. Mùa nước rẫy, thuyền ngự với chiến thuyền và văn võ bá quan hộ tống từ Hoa Lư ngược dòng cập bến Đại La. Tại vùng đất mới, nhà vua đổi tên là thành Thăng Long.
Kinh thành mới đại thể được giới hạn bằng 3 con sông: Phía Đông là sông Hồng, phía Bắc và phía Tây là sông Tô, phía Nam là sông Kim Ngu và chia làm hai phần: Hoàng thành và kinh thành. Hoàng thành nằm trong lòng Kinh thành, vị trí gần Hồ Tây, nơi có các cung điện hoàng gia, đồng thời là nơi thiết triều. Trong Hoàng thành còn ngăn ra một khu vực nữa gọi là Cấm thành. Đây là nơi ở của hoàng gia, gọi là Long thành. Những cung điện chính còn ghi chép trong sử sách như: Điện Kiền Nguyên là điện chính, nơi vua làm việc, hai bên tả hữu là điện Tập Hiền và Giảng Vũ. Bên trái mở cửa Phi Long thông với cung Nghinh Xuân; bên phái mở cửa Đan Phượng thông với cửa Uy Viễn; chính Bắc dựng điện Cao Minh, đằng sau dựng điện Long An và Long Thuỵ để vua nghỉ ngơi, tiếp sau là cung Thuý Hoa và các cung khác để các phi tần ở,v.v...
Năm 1029 vua Lý Thái Tôn cho xây dựng lại Cấm thành. Trên nền cũ của điện Kiền Nguyên dựng điện Thiên An làm chính, hai bên tả hữu là điện Tuyên Đức và Diên Phúc. Đằng trớc Thiên An là sân rồng, hai bên tả hữu sân rồng dựng gác chuông, xung quanh bốn bề đều dựng hành lang và dải vũ. Chếch về phía Đông là điện Văn Minh và điện Quảng vũ. Phía trớc sân rồng là điện Phụng Tiên, trên điện có lầu Chính Dơng nơi đặt đồng hồ và báo canh. Đằng sau điện Thiên An là điện Thiên Khánh hình bát giác, nối liền Thiên Khánh với điện Trờng Xuân phía sau là các cầu Phượng Hoàng, trên điện Trường Xuân có gác Long Đồ.
Năm 1203 lại thêm đợt xây dựng mới. Vua Lý Cao Tôn cho dựng thêm cung điện ở phía Tây tẩm điện: Chính giữa đặt điện Thiên Thuỵ, bên trái dựng điện Dương Minh, bên phải dựng điện Thiềm Quang, đằng trước xây điện Chính Nghi, phía trên dựng điện Kính Thiên. Chính giữa mở cửa Vĩnh Nghiêm, bên phải mở cửa Việt Thành, thềm gọi là Ngân Hồng. Đằng sau mở điện Thắng Thọ, trên có dựng gác. Bên trái xây gác Nhật Kim, bên phải xây gác Nguyệt Bảo, xung quanh đều dựng nhà hành lang. Phía trái gác Nguyệt Bảo dựng toà Lơng Thạch, phía Tây gác xây Dục Đờng (nhà tắm). Ngoài ra còn rất nhiều công trình khác như gác Phú Quốc, thềm Phượng Tiêu, cửa Thấu Viên, ao Dưỡng Ngư, đình Ngoạn Y. Tất cả các công trình này đều có trồng hoa thơm cỏ lạ, “cách chạm trổ trang sức khéo léo, công trình thổ mộc đẹp đẽ xưa chưa từng có vậy”(việt sử lược T .14). Bao bọc các cung điện là một bức tường thành bảo vệ gọi là Long Thành với 10 vệ cấm quân ngày đêm canh gác.
Ngoài các cung điện, nhà Lý còn xây dựng khá nhiều các đền miếu, chùa tháp, hồ, vườn cảnh để phục vụ cho nhu cầu du ngoạn và tâm linh của hoàng tộc như chùa Vạn Tuế, chùa Hưng Thiên Ngự, chùa Chân Giáo, đền Quán Thánh và hàng loạt lầu các, đài tạ rất đẹp như: đài Chúng Tiên dựng năm 1161 tầng trên lợp ngói vàng, tầng dưới lợp ngói bạc; hồ Kim Minh vạn tuế có cầu Vũ Phợng đi vào núi đá giữa hồ; hồ Thuỵ Thanh, ứng Minh(đào 1051); hồ Phượng Liên (đào 1098), cạnh hồ dựng điện Sùng Uyên, điện Huy Dương, đình Lai Phượng, điện ánh Thiềm, đình át Vân cùng lầu Trường Minh, phía sau bắc cầu Ngoạn Hoa. Nhiều vườn ngự cũng được mở trong khu hoàng thành: vườn Quỳnh Lâm, Thắng cảnh, Xuân Quang, Thợng Lâm. Trong các vườn này còn đào hồ nuôi thả hải sản như đồi mồi cá biển...Tất cả các công trình kiến trúc trong hoàng thành đều xây dựng quy mô tráng lệ, từ lầu son gác tía đến các công trình văn hoá, tôn giáo hoà quyện với thiên nhiên tạo nên dáng vẻ riêng của chốn Cửu trùng.
Khu thứ hai là khu dân sự, quan lại và binh lính ở bao bọc lấy hoàng thành, còn gọi là kinh thành. Khu này chia thành các phường nông nghiệp và thủ công nghiệp. Cả hai khu (Hoàng thành và kinh thành) được bao bọc bằng đê của ba con sông nói trên.
Đời sống kinh tế tại Thăng Long thời gian này đã có nhiều thay đổi. Từ vị trí là một miền dân khang vật thịnh, nên khi trở thành Kinh S dân số Thăng Long ngày càng đông, hoạt động kinh tế của kinh thành ngày càng sầm uất, phồn thịnh hơn trước.
Chỉ trong khoảng hơn một trăm năm sau khi trở thành kinh đô, tại Thăng Long, nhà Lý trong giai đoạn thịnh đạt đã đẩy mạnh công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước trên quy mô lớn, mở ra kỷ nguyên văn minh Đại Việt trong lịch sử Việt Nam. Tứ đại khí: chuông Quy Điền, tháp Báo Thiên, tượng Quỳnh Lâm, vạc Phổ Minh chính là đợc thiết kế từ thời kỳ này. Nhà Lý đã trải qua 9 đời ở kinh thành Thăng Long, đổi quốc hiệu là Đại Việt, tồn tại 215 năm.


THĂNG LONG THỜI TRẦN

Nhà Lý chính thức chấm dứt sự thống trị của mình vào ngày mồng 1 tháng Chạp năm ất Dậu (1226), khi Lý Chiêu Hoàng dưới sự đạo diễn của Trần Thủ Độ đã xuống chiếu nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh. Nhà Trần thay nhà Lý trên chính trờng chính trị, đồng thời cũng thay nhà Lý mở ra một thời kỳ mới phát triển cao hơn của xã hội Đại Việt: vững vàng, năng động, thống nhất và ổn định cho đến giữa thế kỷ XV.
Thăng Long thời Trần vẫn là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hoá lớn nhất của Đại Việt bấy giờ. Cuộc chuyển giao triều chính diễn ra một cách hoà bình đã không làm cho Thăng Long thay đổi nhiều. Về kiến trúc vẫn như thời Lý, nhiều cung điện trong Hoàng thành và Cấm thành vẫn giữ nguyên. Nhà Trần ngoài việc trùng tu các công trình cũ còn xây dựng một số công trình kiến trúc mới ở Thăng Long: lập Viện quốc học, Giảng võ đờng... Kinh thành chia làm 61 phờng, bao gồm cả phờng buôn, phờng thợ và phường làm nông nghiệp. Một số tên phường trong thời kỳ này còn thấy lác đác ghi trong sử sách cũ như: Thái Hoà, Báo Thiên, Phủng Nhật, Cơ Xá, Bố Cái, Hạc Kiều, Thịnh Quang, Toán Viên...
Việc buôn bán giữa Thăng Long và các địa phương đã bắt đầu phát triển. Sông Tô Lịch thành nơi buôn bán sầm uất trên bến dưới thuyền. Khách buôn từ khắp nơi đều theo sông Hồng, qua cửa Hà Khẩu vào sông Tô để đa hàng vào kinh thành. Sự kiện năm 1400 khi Hồ Quý Ly đánh thuế thuyền buôn đã chứng tỏ hình thức buôn bán bằng đường thuỷ ở Thăng Long thời gian này khá hưng thịnh.
Sự kiện năm 1282 vua Trần Thánh Tôn đi xe từ kinh thành đến Bình Than (Chí Linh-Hải Hng) để hội chư quân cho phép chúng ta khẳng định tuyến đường bộ thời ấy đã tương đối rộng rãi và thông thương thuận tiện. Đây chính là những tiền đề cần thiết cho các hoạt động kinh tế và thơng mại của Thăng Long thời Trần được đẩy lên một diện mạo mới.
Cuối thời Trần, Thăng Long đã được sử sách chép với cái tên “Kẻ chợ”. Điều đó cho thấy diện mạo của Thăng Long đương thời đã phần nào mang dáng dấp của một thành phố quốc tế: một thành phố nhân ái, là nơi giao lưu và hội tụ của nhiều yếu tố kinh tế, văn hoá và con người; một thành phố thủ công và buôn bán nhỏ của ngời Việt nhưng cũng có các cửa hàng buôn bán lớn của người Hoa, Hồi Hột, Chà Và...; một thành phố đón tiếp các sứ giả Tống, Nguyên, Lào, Chiêm Thành, Gia va, các tăng ni bậc thầy cả ở Trung á, ấn độ và có cả những quần tụ người Chiêm Thành ở miền ven nội; một Thăng Long vừa diễn chèo Việt, tuồng Tầu, và múa điệu ngời Hồ...
Kinh tế công thương nghiệp thành thị sinh ra tầng lớp thị dân và lối sống thị dân. Sử chép: vua Trần Anh Tông (1293 - 1314) thờng “lén đi chơi, cứ đến đêm đi kiệu cùng hơn mời ngời thị vệ, đi khắp kinh thành, đến gà sáng mới về” chứng tỏ Thăng Long ngày ấy đã tơng đối sầm uất và ắt hẳn có nhiều hình thức buôn bán cũng như vui chơi về ban đêm.
Thăng Long đời Trần không chỉ xây dựng và sáng tạo nghệ thuật mà còn đánh giặc và đánh giỏi. Trong vòng 30 năm, ba lần Thăng Long trở thành toà thành vườn không nhà trống, để rồi là mồ chôn quân xâm lược mà dấu vết oai hùng vẫn in dấu vàng son mỗi tên ngời tên đất: Đông Bộ Đầu - dốc Hàng Than; Giang Khẩu - Hàng Buồm... và cuối cùng, “Đằng giang tự cổ huyết do hồng” lại nối tiếp chiến công xa nhấn chìm quân xâm lợc cùng tham vọng bành trướng của chúng. Thăng Long qua ba lần thử lửa vẫn vững vàng xứng đáng là một đô thành anh hùng.
Nhà Trần tồn tại trên mảnh đất kinh kỳ nh vậy 175 năm với 12 đời vua nối nhau trị vì trên đất Thăng Long Kẻ chợ.

THĂNG LONG THỜI LÊ SƠ

Như một quy luật, nhà Trần sau một thời gian hưng thịnh, đã đi vào suy thoái, quý tộc ngoại thích Hồ Quý Ly chiếm ngôi lập ra nhà Hồ (1400 - 1407). Ông xây dựng một đô thành mới ở Thanh Hoá gọi là Tây Đô. Thành Thăng Long, lúc này đổi là Đông Đô rồi Đông Quan lại một lần nữa chứng kiến quân xâm lược ngoại bang giày xéo. Năm 1406, nhà Minh phái 20 vạn quân sang xâm lợc Đại Việt. Cuộc kháng chiến do nhà Hồ lãnh đạo thất bại, thành Đông Quan trở thành nơi chiếm đóng của địch. Đất nước đứng trước thử thách mới của lịch sử để rồi chứng kiến cuộc chiến tranh giữ nước của anh hùng tương ngộ Lê Lợi - Nguyễn Trãi (1418). 10 năm sau ngày phất cờ khởi nghĩa tại núi rừng Lam Sơn, quê hương của người anh hùng Lê Lợi, toàn quân dân Đại Việt đã đại thắng giặc Minh, lập nên một triều đại mới: triều đại nhà Lê.
Ngày 29 tháng 4 năm 1428 (ngày 16 tháng 4 năm Mậu Thân), Lê Lợi chính thức lên ngôi hoàng đế tại điện Kính Thiên, khôi phục quốc hiệu là Đại Việt, đóng đô ở Đông Đô (Thăng Long), mở đầu kỷ Lê Sơ. Năm 1430 đổi Đông Đô làm Đông Kinh, năm 1446 đổi gọi là phủ Trung Đô. Kinh thành nói chung vẫn như thời Lý- Trần- Hồ và mở thêm về phía Đông. Cho đến năm 1459, sau sự biến trong Cấm Thành, Lê Thánh Tôn đã cho dựng lại Hoàng thành rộng dài thêm 8 dặm nữa. Theo bản đồ vẽ năm 1490 thì trong cùng là toà thành hình chữ nhật xây gạch gọi là Cấm Thành. Bên trong có các cung điện, thâm nghiêm nhất là điện Kính Thiên. Bên phải là điện Chí Kính, phía sau là điện Vạn Thọ, đằng trước là điện Thị Triều. Phía ngoài điện Thị Triều là cửa Đoan Môn, hai bên cửa Đoan Môn là hai cửa Đông và Tây Tràng An ăn thông ra phía Tây và Đông Hoàng thành nơi có nhà Thái miếu- nơi thờ tổ tiên nhà vua và Đông cung- nơi Thái tử ở.
Năm 1512 Lê Tương Dực lệnh cho Vũ Như Tô đứng ra trông non xây dựng hơn 100 nóc cung điện có gác và khởi công xây dựng Cửu Trùng Đài. Năm 1514 lại cho mở rộng Hoàng thành mấy nghìn trượng (mỗi trượng 3,6m) bao bọc cả quán Trấn vũ và chùa Kim cổ, tường thành chạy từ phía Đông nam đến Tây bắc, chắn ngang sông Tô. Theo lối vẽ ước lệ của bản đồ thì phỏng đoán rằng mặt phía Đông gần trùng với phố Hàng Cót, Hàng Điếu, Hàng Da ngày nay. Phía mặt Bắc chạy theo sông Tô, trùng với đường Hoàng Hoa Thám, mặt phía Tây là đường Bưởi. Mặt Nam có thể là một đoạn phố Cầu Giấy chạy sang Kim Mã rồi Sơn Tây, Trần Phú tới Hàng Da. Có thể hiểu đây là khu Hoàng thành với diện tích rộng gấp đôi Hoàng thành thời Lý -Trần.
Khu dân cư chia làm hai huyện: Vĩnh Xương và Quảng Đức, mỗi huyện 18 phường.
Vào thời Lê Sơ, Thăng Long vẫn là nơi tập trung buôn bán lớn nhất của cả nước. Đồng thời cũng là nơi dồn tụ nhiều nghành nghề thủ công cũng như các thợ thủ công giỏi nổi tiếng. Kinh thành được xây dựng lại đàng hoàng hơn, Văn Miếu được mở rộng, Quốc Tử Giám được dựng lại, các hoạt động kinh tế văn hoá, giáo dục, thi cử đều được khôi phục và phát triển, đặc biệt cực thịnh dưới thời vua Lê Thánh Tông. Có thể nói đây là thời kỳ phát triển đỉnh cao của chế độ phong kiến trung ương tập quyền. Đây cũng là thời kỳ ra đời của “Tao Đàn Nguyên Suý” với 28 thành viên được ví như 28 vì tinh tú, trong đó Lê Thánh Tông vượt lên khỏi tầm vóc một nhà chính trị, một nhà vua, ông trở thành một nhà văn hoá lớn có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển của văn học dân tộc. Ông đã trở thành gương mặt tiêu biểu của văn học Thăng Long thế kỷ XV.
Nhà Lê Sơ tồn tại 99 năm, tổng cộng 10 đời vua từ Lê Thái Tổ đến Lê Cung Hoàng.


THĂNG LONG THỜI MẠC - LÊ MẠT

Cuối triều Lê bắt đầu từ Lê Uy Mục, chính trường Thăng Long đã diễn ra khá phức tạp. Vua kém tài thiếu đức, bề tôi mưu đoạt vương quyền, lòng người ly tán, chính trị, xã hội khủng hoảng sâu sắc. Tham gia vào sự biến loạn chủ yếu là các gương mặt thuộc tầng lớp vương công, văn võ bá quan, trong đó nổi lên nhân vật Mạc Đăng Dung. Đến thời Cung Hoàng thì uy thế của Mạc Đăng Dung đã bao trùm hết thảy và thu phục được lòng ngời. Sử chép về ông như sau: “Từng bình được nhiều giặc lớn, uy quyền ngày càng thịnh, mà đạo quân nhà vua thì yếu ớt lòng người ai cũng hướng về Đăng Dung” (Lê Quý Đôn - Đại Việt thông sử). Qua hoạt động thực tiễn Mạc Đăng Dung đã tỏ ra vượt trội hơn ngời khác về uy tín và tài năng. Việc phải đến đã đến, Thăng Long một lần nữa chứng kiến chính biến vương triều nhà Lê chuyển qua nhà Mạc (1527).
Tuy nhiên họ Mạc lập ra một triều đại mới trong bối cảnh đã hình thành nhiều thế lực quan liêu có quyền lực quân sự lớn nhỏ cho nên lâm ngay vào tình trạng chiến tranh phân liệt chứ không phải thống nhất xã hội. Với việc phế bỏ nhà Lê, họ Mạc đã mở đầu cục diện phân tranh. Cuộc Phân này trước tiên diễn ra giữa Tây Đô và Thăng Long, hình thành nên cái gọi là Bắc triều (thế lực nhà Mạc) và Nam triều (thế lực nhà Trịnh) để rồi sau đó chuyển sang cục diện Đàng Trong, Đàng Ngoài, tiền đề cho một Hợp lớn hơn 200 năm sau.
Bức tranh Thăng Long thời Mạc khá phức tạp, cung điện kho tàng và các phường phố ở Kinh thành đã nhiều lần bị thiêu đốt, tàn phá. Hoàng thành nhiều năm bị bỏ trống càng trở nên hoang phế điêu tàn. Cuối năm 1585 Mạc Mậu Hợp trở lại Thăng Long cho tu sửa lại Hoàng thành để chống lại cuộc tấn công của họ Trịnh. Lần tu sửa này Hoàng thành đã thu hẹp lại về hai phía Đông và phía Tây, một số cung điện bị bỏ ra ngoài hoàng thành trở nên hoang phế. Tuy vậy Hoàng Thành thời gian này vẫn rộng hơn Hoàng thành thời Lý - Trần và rộng hơn tỉnh thành Hà Nội thời Nguyễn.
Năm 1592, Trịnh Tùng con trai của Trịnh Kiểm đã kéo quân vây đánh Đông Đô, Mạc Mậu Hợp bị giết. Vua Lê Thế Tông được họ Trịnh phò tá trở lại Thăng Long mở đầu thời kỳ mới và duy nhất trong lịch sử Việt Nam vừa có Vua vừa có Chúa mà lịch sử gọi là thời Lê Trung Hưng. Sau khi đuổi được họ Mạc ra khỏi Thăng Long, năm 1593 chúa Trịnh cho sửa sang qua loa lại Hoàng thành để vua Lê ở còn lại tập trung dựng phủ chúa bên ngoài Hoàng thành. Đây mới cơ quan đầu não đích thực của trung ương thời bấy giờ với nhiều công trình kiến trúc xa hoa lộng lẫy: lầu Ngũ Long (phía bờ Đông hồ Gươm), đình Tả Vọng (nay là gò Rùa), cung Thuỵ Khánh (chỗ đảo Ngọc Sơn), Năm 1728 Trịnh Giang còn cho đào hầm ở phía Nam hồ Gươm để dựng cung điện ngầm dới đất gọi là Thưởng Trì cung. Khu văn miếu đợc mở rộng thêm thành một khu học xá lớn nhất trong thời phong kiến bao gồm các điện Đại Thành thờ tiên thánh, nhà giải vũ thờ tiên nho, nhà Thái học trong đó có trường Quốc Tử Giám. Hai phía Đông và Tây nhà Thái Học dựng nhà bia ghi danh tiến sĩ và dựng cả khu nhà 150 gian cho học sinh ở tạo thành một nhà học quy mô chưa từng có trong các thời đại trước. Ngoài ra là hàng loạt các đền chùa có quy mô lớn cũng được dựng lên trong thời gian này như: chùa Trấn quốc, chùa Tiên Tích, đền bà Kiệu....
Mặc dù có nhiều biến động về chính trị, xã hội song đây cũng chính là thời kỳ kinh tế và văn hoá đặc biệt phát triển, hình thành nên những vùng buôn bán khá hưng thịnh. Chợ phát triễn nhiều, buôn bán sầm uất ở kinh kỳ, Kiến An... Tầng lớp thị dân ngày một gia tăng, có một số trở thành chủ xưởng, chủ hiệu giàu có, nhưng đông đảo vẫn là người sản xuất và buôn bán nhỏ. Vì thế Thăng Long không vượt qua đợc mô hình cấu trúc của thành thị trung đại phương Đông để trở thành “thành thị tự do” như ở phơng Tây. Tuy thế trong lĩnh vức văn hoá, giáo dục, đây cũng là thời gian thành Thăng Long chứng kiến sự nở rộ của mặt bằng trí thức. Hàng loạt các tiến sĩ đã thi đỗ, trong đó có một tiến sĩ nữ (Trần Thị Duệ), có người đã trở thành đại trí thức như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan... Cùng với những tên tuổi ngời Thăng Long gốc: Đặng Trần Côn, Bùi Huy Bích, các vị lập nghiệp ở đây như Lê Quý Đôn, Nguyễn Gia Thiều, Đoàn Thị Điểm đã làm cho văn hoá Thăng Long thêm sáng giá. Đây chính là bước đệm cho sự phục hưng văn hoá ở các thế kỷ sau.
Đặc biệt đến đầu thế kỷ XVII ở Thăng Long ngày xuất hiện nhiều thương điếm của ngời châu Âu như Hà Lan, Anh, đặc biệt là các thuyền nhân ngời Hoa sang cư trú và buôn bán. Tất cả những hoạt động đó đều diễn ra trong một bầu không khí chính trị vần vũ của những cuộc chiến tranh kéo dài giữa hai thế lực: Chúa Trịnh (Đàng Ngoài) và Chúa Nguyễn (Đàng Trong). Cuộc chiến chỉ chấm dứt khi ngời anh hùng áo vải Nguyễn Huệ nổi lên tiêu diệt cả hai thế lực, lập lại trật tự vào năm 1786.


THĂNG LONG THỜI TÂY SƠN

Mùa hè năm 1786, quân Tây Sơn tiến ra Đàng Ngoài lật đổ chế độ chúa Trịnh. Ngày 21 -7 - 1786 quân Tây Sơn đã làm chủ Thăng Long. Nền thống trị của họ Trịnh tồn tại 241 năm (1545 - 1786), trong đó có 194 năm ở Thăng Long bị lật nhào. Bằng chiến công này, quân Tây Sơn đã kiểm soát cả nước, xoá bỏ tình trạng chia cắt Đàng Trong - Đàng Ngoài kéo dài hơn 2 thế kỷ. Chính quyền đợc trao lại cho vua Lê, Nguyễn Huệ về Nam mang theo người con gái Hà thành. Thăng Long tưng bừng chứng kiến một đám cưới chưa từng có trong lịch sử của công chúa Ngọc Hân và ngời anh hùng áo vải.
Lê Chiêu Thống không điều hành được chính sự, các cánh quân phiệt nổi lên tranh giành quyền bính, nguyễn Huệ đã phải 2 lần đưa quân ra dẹp loạn. Cuối năm 1788, Chiêu Thống trốn khỏi Thăng Long, cho người sang cầu cứu nhà Thanh. Ngày 16/12/1788, 29 vạn quân Thanh hùng hổ tiến vào Đại Việt. Nguyễn Huệ lúc đó đang ở Phú Xuân nghe tin cấp báo lập tức thần tốc xuất quân tiến ra Bắc hà. Trên đường tiến quân, để sáng tỏ danh nghĩa với cả nước và quy tụ nhân tâm, Nguyễn Huệ đã lên ngôi Hoàng đế, đặt hiệu Quang Trung.
Với tài dùng binh xuất sắc, kết hợp phương thức chiến lược thần tốc, táo bạo ngày mồng 5 tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1789), đội quân bách chiến bách thắng của Hoàng đế Quang Trung đã đánh tan 29 vạn quân Mãn Thanh. Tiêu biểu là trận Ngọc Hồi - Đống Đa do đích thân Quang Trung trực tiếp chỉ huy tiến vào giải phóng Thăng Long. Tuy nhiên, sau khi quét sạch quân xâm lược nhà Thanh trên đất Bắc hà, vua Quang Trung chỉ để lại một bộ phận quân đội cũng như quan lại để tiếp quản thành Thăng Long còn rút toàn bộ về kinh thành Phú Xuân. Thăng Long lúc đó chỉ còn tồn tại với tư cách là một thủ phủ của xứ Bắc và đợc gọi là Bắc thành mà thôi.
Kể từ triều Tây Sơn, thủ đô của nước ta đặt tại Phú Xuân, nhà Tây Sơn tồn tại đợc 24 năm từ vua Thái Đức đến Cảnh Thịnh.

THĂNG LONG THỜI NGUYỄN

Năm 1802, Nguyễn ánh với sự trợ giúp của Pháp đã tiêu diệt nhà Tây Sơn lên ngôi Hoàng đế, hiệu Gia Long, đóng đô tại Phú Xuân (tức Huế ngày nay). Từ đấy kinh thành Thăng Long cũng như toàn miền Bắc phải chịu một sự chuyển đổi lớn: Từ kinh thành hơn 800 năm trở thành trấn thành rồi tỉnh thành. Sự chuyển đổi này có nhiều lý do: thứ nhất nhà Nguyễn không được lòng nhân sĩ Bắc Hà; thứ hai Phú Xuân (Huế) từng là vùng chịu ảnh hưởng của thế lực nhà Nguyễn trong mấy trăm năm nên đã đi vào nề nếp. Kinh thành đã chuyền làm trấn thành nên tên Thăng Long cũng bị đổi từ nghĩa rồng bay sang thành thịnh vượng.
Để thống trị Bắc kỳ, năm 1805 nhà Nguyễn cho xây lại thành Thăng Long nhỏ hẹp hơn rất nhiều so với Hoàng thành các thời trước. Thành mới xây phỏng theo kiểu thành Vauban của Pháp cuối thế kỷ XVII. Thành hình vuông mỗi bề chừng một cây số, chu vi khoảng 1285 trượng. Tường thành xây bằng gạch hộp, chân thành xây bằng đá xanh, tường cao 1 trượng 1 thước, dày 4 trượng mở ra 5 cửa: Đông- Tây- Bắc- Đông nam và Tây nam, ngoài mỗi cửa có một mảnh thành nhỏ gọi là Dương Mã thành để giữ cửa. Trong thành có nhà Kính Thiên, cột cờ. Trước cột cờ là Hồ Voi, nơi đặt dinh tổng trấn và các Tào thay mặt các Bộ. Có kho, võ miếu, đàn Xã tắc để tế trời đất, nền Tịch điền để làm lễ động thổ hàng năm. Có nhà ngục và nơi pháp trường gọi là Trường hình. Mỗi cửa thành đều có lính đóng, ngoài cửa Nam có Đình Ngang Cấm Chỉ.
Ngoài thành là các doanh trại quân đội sau đó mới đến các phố phờng và khu đồn thuỷ; lập phố Tràng tiền để đúc tiền kẽm, tiền đồng. Tuy gọi là 36 phố phờng nhưng thực chất thì nhiều hơn. Có những phố chuyên phục vụ cho quan lại như phố Hàng Đào bán tơ lụa; phố Mã Vĩ bán mũ áo cho các quan chức và phường chèo; phố Hàng Bài làm hài cho các bà lớn và những người đồng cốt; phố Hàng Bạc bán đồ trang sức; phố Hàng Đàn làm võng kiệu, long đình... Lại có những phố chuyên bán đồ ăn như phố Hàng Mắm, Hàng Gạo, Hàng Hành, Hàng Gà, Hàng Khoai, Hàng Rơi, Hàng Bồ... (đều là những phố nằm trong quận Hoàn Kiếm ngày nay và đợc gọi là khu Phố cổ).
Vòng ngoài của thành Hà Nội có ngoại thành dài 28 dặm 77 trượng 4 thước, chừng 16 cây số; có 16 cửa ô: Kim Liên, An Tự, Thanh Lãng (Thanh nhàn), Nhân Hoà, Tây Long (chỗ Nhà Hát Lớn), Đông An, Mỹ Lộc, Trưừng Thanh, Đông Hà, Phúc Lâm (Hàng Đậu), Thạch Khối, An Tĩnh (Yên Thành), An Hoà (Yên Phụ), Tây Hồ (đờng Bởi), Vạn Bảo (Kim Mã), Thịnh Quang (ô Chợ Dừa). Những cửa ô này chính là nơi thu hút khách thập phương đổ về làm ăn, vì vậy Thăng Long lúc này mặc dù mất đi chức năng là một kinh đô, song lại cực kỳ phát triển về kinh tế hàng hoá. Dân tứ trấn Đông, Nam, Đoài, Bắc đều kéo nhau về Hà Nội làm ăn và tụ tập thành xóm riêng: Phất Lộc, Gia Ngư, Nam Ngư. Những người cùng làng không ở gần nhau thì vẫn có đình chung để hội họp. Dân nghề thì tập họp nhau bằng cách hàng năm tế Tiên sư. Điều đó lý giải tại sao giữa lòng Thủ đô Hà Nội ngày nay vẫn có những ngôi đình: Phù ủng, Lương Ngọc... Các nghề thủ công ở Thăng Long giai đoạn này đã phát đạt đến mức tinh vi như nghề thêu, nghề khảm. Năm 1831, nhà Nguyễn lại loại bỏ chức tổng trấn, chỉ để làm một tỉnh lỵ - tỉnh Hà Nội. Thành bị bạt bớt đi, các công trình văn hoá cũng có những biến đổi: Quốc Tử Giám bị dời vào Huế, nhiều công trình cung điện bị dỡ mang vật liệu vào xây dựng ở Huế, trường thi Hương thành chốn đàn ca giải trí. Một số cửa ô được xây dựng lại trong đó có ô Quan Chưởng (1817). Thăng Long với tư cách một kinh đô thực sự bị loại bỏ trong suốt thời gian 143 năm dưới triều Nguyễn và thời Pháp thuộc, để rồi lại tưng bừng trong tư thế một Thủ đô cách mạng sau này.

THĂNG LONG THỜI PHÁP THUỘC

Sau sự kiện Pháp chiếm 3 tỉnh Đông Nam kỳ (Gia Định, Biên Hoà, Định Tường), đầu tháng 11 năm 1873, F.Garnier đem quân tới Hà Nội. 15 ngày sau, sáng ngày 20/11/1873, Y nổ súng. Do triều đình đã chủ hoà nên thành trì không được phòng thủ chắc chắn, thành Hà Nội thất thủ. Nhưng nhân dân Hà Nội đã không chịu khuất phục, dưới sự chỉ huy của Nguyễn Tri Phơng đã anh dũng đứng lên kháng Pháp bảo vệ Hà Nội. Ngày 21/12/1873, quân dân Hà Nội kết hợp với quân Cờ Đen khép chặt vòng vây tiêu diệt Garnier ở trận Cầu Giấy.
Mặc dù tinh thần kháng Pháp anh dũng của nhân dân Hà Nội rất cao, triều đình vẫn không thay đổi ý định cầu hoà. Kết quả là khu Đồn Thuỷ (khu vực Bảo tàng Lịch sử và bệnh viện Hữu Nghị hiện nay) đã bị nhường cho Pháp làm Khu nhượng địa. Henri Riviere được phái đến Hà Nội thay cho Garnier. Tới Hà Nội hắn gửi tối hậu thư cho Hoàng Diệu (tổng đốc Hà Nội bấy giờ) đòi quân dân ta đầu hàng. Mặc dù không được lệnh của triều đình Huế, Hoàng Diệu vẫn lãnh đạo quân dân Hà Nội chiến đấu hết sức anh dũng và tuẫn tiết theo thành. Ngày 19/5/1883 lại một lần nữa quân Pháp bị đại bại tại trận Cầu Giấy. Trong trận này, trung tá hải quân Henri Riviere tổng chỉ huy lực lượng viễn chinh Pháp xâm lược Bắc kỳ cùng một số sĩ quan binh lính khác bị giết tại trận. Trong tình hình ấy, nếu triều đình Huế cho quân viện trợ thì có thể thừa thắng tiêu diệt hết quân Pháp và giải phóng Hà Nội. Nhưng Tự Đức chỉ hy vọng lấy lại Hà Nội bằng con đường hoà hảo đã ký hiệp ước bán nước nhục nhã năm 1884, công nhận sự đô hộ của Pháp trên toàn cõi Việt Nam.
Ngay sau khi chiếm Hà Nội, mặc dầu chưa bình định đợc Bắc kỳ thực dân Pháp cũng đã bắt tay vào kiến thiết sơ bộ cơ sở của chúng ở Hà Nội. Năm 1901 chúng xây phủ Thống sứ, nhà bưu điện, kho bạc, nhà đốc lý, nhà kèn ở vườn hoa Pônbe, mở thêm phố Đồng khánh, Gia Long cùng trường đua ngựa...một số nhà máy bia, diêm, dệt, điện và nhà thờ lớn cũng đợc dựng trong thời gian này. Từ năm 1897 bọn thực dân đã ổn định được Bắc kỳ nên số tư bản Pháp sang kinh doanh ngày một nhiều, nhà cửa cùng các công trình phục vụ bọn tư bản cũng vì thế mà tăng lên. Đường phố cũng dần đợc mở mang để phục vụ cho mục đích khai thác và bóc lột của chúng. Đặc biệt sau chiến tranh thế giới thứ nhất, thực dân Pháp càng đẩy mạnh việc khai thác ở Đông Dương, bộ mặt Hà Nội cũng có nhiều thay đổi, giai cấp công nhân hình thành, song đây cũng là thời gian mà các hoạt động kháng Pháp ngày càng nở rộ: Đông Kinh Nghĩa Thục (2/1907), liền sau đó là vụ Hà Thành đầu độc (1908). Năm 1919 có cuộc bãi công của một số nhà máy in ở Hà Nội. Từ đó cho đến năm 1929, những cuộc bãi công của công nhân đã nổ ra liên tiếp. Năm 1925, ở Hà Nội lại xảy ra một sự kiện chính trị làm náo động dư luận toàn quốc, gây nên một phong trào đấu tranh chính trị sôi nổi suốt từ Bắc chí Nam, đó là vụ án Phan Bội Châu; Lễ truy điệu Phan Chu Trinh...
Vào thời gian này các cơ sở của Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội ra đời tại Hà Nội. Phong trào đấu tranh của công nhân mỗi ngày một dâng cao, dẫn đến việc thành lập chi bộ **** đầu tiên ở Hà Nội (tháng 3/1929) tại số nhà 5D phố Hàm Long. Sau ngày 3/2/1930, ba tổ chức cách mạng của nước ta hợp nhất, lấy tên là Đảng **** Việt Nam. Kể từ đó đến giữa năm 1930, cao trào cách mạng dâng lên ở Hà Nội, phối hợp với phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh tạo thành một khí thế cách mạng vô cùng mạnh mẽ. Trong thời kỳ này, Việt Nam Quốc Dân Đảng của Nguyễn Thái Học cũng hoạt động khá sôi nổi ở Hà Nội và đã gây nhiều cơ sở trong số các công chức giáo dục. Nhng sau vụ bạo động Yên Bái thất bại (1930), hoạt động của họ lắng hẳn.
Đến năm 1936, chớp thời cơ khi chính phủ Mặt trận Bình dân Pháp lên cầm quyền, một phong trào đấu tranh đòi tự do dân chủ chống bọn phản động thuộc địa được Đảng phát động trong những năm 1936 - 1939. Đây cũng là thời cơ để Đảng đứng ra tập hợp quần chúng, tạo diễn đàn đấu tranh công khai và gây dựng cơ sở. Ngày 1/5/1938, một cuộc mít tinh khổng lồ kỷ niệm ngày quốc tế lao động đã diễn ra tại Hà Nội trước cửa nhà Đấu Xảo. Đó là cuộc mít tinh lớn nhất kể từ khi Pháp cai trị nước ta, kết hợp với nhiều cuộc mít tinh lớn nhỏ khác thúc đẩy phong trào cách mạng ở Hà Nội thu đợc nhiều kết quả to lớn.
Đây chính là thời kỳ tập dợt và chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa 8-1945.

HÀ NỘI THỜI KHÁNG PHÁP

Cách mạng tháng Tám 1945 và sự ra đời của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà Tuyên ngôn độc lập Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập
Tháng 9/1940, phát xít Nhật kéo vào Hà Nội. Nhân dân Hà Nội bắt đầu một giai đoạn lịch sử mới: sống và đấu tranh dưới ách thống trị của cả thực dân Pháp lẫn phát xít Nhật. Chúng mở thêm một vài trường cao đẳng để mua chuộc sinh viên. Nhưng tất cả các biện pháp ấy không che lấp được thực tế đời sống ngày càng bị đẩy vào bần cùng của nhân dân ta. Giá sinh hoạt tăng vọt. ở nông thôn, chúng bắt nhổ lúa trồng đay. Thành thị xuất hiện nhiều loại thuế mới. Nhiều đảng phái chính trị thân Nhật xuất hiện ở Hà Nội gây tác động không nhỏ đến tình hình xã hội lúc bấy giờ. Nhưng những luận điệu của chúng cùng bọn thực dân không thể lung lạc được các tầng lớp nhân dân Hà Nội vẫn một lòng hướng về Đảng.
Các tổ chức cách mạng tuy có nhiều thiệt hại nhưng cũng dần phục hồi, đặc biệt là các đoàn thể trong mặt trận Việt minh được tổ chức khắp trong thành phố. Các hoạt động bất hợp tác với Pháp, Nhật liên tục diễn ra dưới nhiều hình thức: bãi công của công nhân, biểu tình phá kho thóc của nông dân..., tự vệ chiến đấu được thành lập, nhiều vụ trừng trị Việt gian của đội danh dự đã gây chấn động trong thành phố. Ngày 9/3/1945 Nhật đảo chính Pháp ở Hà Nội, phong trào cách mạng càng sôi sục. Ngày 15/8/1945, phát xít Nhật đầu hàng đồng minh. Trước tình hình và thời cơ có một không hai ấy, căn cứ vào đường lối của Trung ương Đảng, Thành uỷ Hà Nội đã quyết định thành lập Uỷ ban khởi nghĩa. Trong khoảng hai ngày 17 và 18 tháng 8 hầu hết các cơ sở chính quyền bù nhìn thân Nhật xung quanh Hà Nội bị tê liệt. Ngày 19/8 Uỷ ban khởi nghĩa đã tổ chức một cuộc mít tinh lớn tại quảng trường Nhà Hát Lớn thành phố, sau đó biến thành cuộc tuần hành thị uy kéo đến chiếm Bắc Bộ phủ, Trại bảo an binh, Sở mật thám...
Sau Hà Nội, Huế và Sài Gòn đã lần lượt nổi dậy. Chỉ trong 10 ngày, chế độ cũ đã bị lật đổ, trật tự mới được thành lập trong toàn quốc. Ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố với nhân dân cả nước và trước thế giới việc thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà.
Một trang sử mới được mở ra với nước ta, nhưng cách mạng vừa thành công, thì những khó khăn lớn lại ập đến tưởng chừng không vượt nổi đối với Hà Nội. Từ tháng 9/1945 đến tháng 5/1946, 20 vạn quân Tưởng với danh nghĩa tước khí giới quân Nhật đã kéo sang nước ta, kéo bè với bọn Quốc dân Đảng phản động, điên cuồng gây sức ép và phá hoại cách mạng nước ta đang thời kỳ non trẻ.
Nhân dân Hà Nội cùng cả nước đã tỏ rõ tinh thần yêu nước và kiên quyết bảo vệ thành quả cách mạng bằng những hành động cụ thể: đoàn kết thành một khối xung quanh Chủ tịch Hồ Chí Minh, hạn chế sự phá phách của thực dân Pháp, khắc phục nạn đói, nạn dốt và tài chính cạn kiệt... Cách mạng đã vượt qua tình thế ngàn cân treo sợi tóc. Nhng thực dân Pháp lại gây hấn ở Nam Bộ và nổ súng tiến công Hà Nội. Hồ Chủ Tịch đã ra lời hiệu triệu quốc dân đồng bào đứng lên kháng chiến. Đêm ngày 19/12/1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Sau hai tháng anh dũng chiến đấu quyết tử cho tổ quốc quyết sinh, Trung đoàn Thủ đô đã hoàn thành nhiệm vụ giam chân địch, tạo điều kiện cho Chính phủ rút lên chiến khu Việt Bắc an toàn. Đêm ngày 17/2/1947, Trung đoàn Thủ đô phá vòng vây của địch, rút quân an toàn ra vùng tự do, cùng quân dân cả nớc tiếp tục cuộc kháng chiến chống Pháp.
Sau khi Trung đoàn Thủ đô rút, trong nội thành cơ sở của ta vẫn phát triển mạnh trong các xí nghiệp, khu phố, trờng học và cả các chợ. Đáng chú ý nhất là cuộc đấu tranh bãi khoá của toàn thể học sinh Hà Nội trong một tuần lễ (13/1 đến 20/1/1950) để phản đối thực dân Pháp và bù nhìn tay sai đã giết hại sinh viên Trần Văn Ơn ở Sài Gòn. Phong trào chống bắt lính trong công nhân, thanh niên, học sinh và mọi tầng lớp nhân dân diễn ra sôi nổi dới mọi hình thức: lẩn trốn không trình diện; làm kiến nghị phản đối; bỏ trại tập trung ra vùng tự do; đánh lại chỉ huy. Nhiều chiến công của quân dân Hà Nội trong vùng tạm chiếm đáng ghi nhớ như: trận đánh sân bay Bạch Mai (thiêu huỷ 25 máy bay, đốt 60 vạn lít ét-xăng); đánh sân bay Gia Lâm, tiêu huỷ 18 máy bay và 1 kho xăng (1954).
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, theo hiệp định Giơnevơ, Hà Nội nằm trong khu vực tập kết 80 ngày của địch. Lại một lần nữa đồng bào Thủ đô đã thắng lợi trớc âm mu biến Hà Nội thành một thành phố chết của địch. Máy móc, điện, nớc, tàu xe vẫn đảm bảo lu thông và bắt đầu hoạt động ngay khi bộ đội ta vào tiếp quản.
Ngày 10/10/1954, đoàn quân chiến thắng của Hồ Chủ Tịch bao gồm cả những ngời con của Hà thành lại tng bừng trở về tiếp quản Thủ đô, mở ra một thời kỳ mới cho lịch sử Hà Nội nói riêng và cả nớc nói chung.

HÀ NỘI THỜI CHỐNG MỸ

Sau khi tiếp quản, Hà Nội bắt tay vào thời kỳ khôi phục và phát triển kinh tế, văn hoá, đồng thời thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965) xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ của nhân dân Hà Nội là xây dựng Thủ đô thành một trung tâm chính trị, kinh tế và văn hoá của cả nớc, là hậu phơng lớn cho công cuộc giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất Tổ quốc. Với tinh thần tự lực cánh sinh, phát huy hết khả năng lao động sáng tạo của quần chúng, chỉ trong 10 năm, thành phố đã trở thành một trung tâm, chính trị và văn hoá quan trọng của cả miền Bắc, bớc đầu đặt nền móng cho một nền công nghiệp với trên 200 xí nghiệp lớn nhỏ.
Để phá hoại công cuộc cách mạng của ta ở miền Bắc và cứu vãn cho những thất bại của ở miền Nam, từ năm 1965, đế quốc Mỹ đã dùng không quân và hải quân tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam. Sau khi đã tiến công nhiều địa điểm thuộc Hòn Gai, Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Bình, từ giữa năm 1966, Mỹ thực sự đánh vào Hà Nội, mở đầu một giai đoạn “leo thang” nghiêm trọng, bắn phá miền Bắc Việt Nam. Với âm mưu đưa miền Bắc "trở lại thời kỳ đồ đá", đế quốc Mỹ đã đã đem hàng ngàn tấn bom vào rải thảm Hà Nội, nhiều khu phố, trường học, bệnh viện, khu công nghiệp đã bị bom Mỹ san phẳng, thành phố bị thiệt hại nặng nề. Nhưng toàn quân và dân Hà Nội vẫn kiên cường bất khuất đánh địch quyết liệt để bảo vệ Thủ đô, bảo vệ những thành quả cách mạng và những công trình văn hoá từ nghìn xa để lại, đập tan mọi bước leo thang chiến tranh, bắn rơi 358 máy bay, trong đó có 23 máy bay B52, 2 máy F111. Công tác sơ tán cơ quan, xí nghiệp, ngời già, trẻ em được đẩy mạnh để bảo vệ tài sản và tính mạng của nhà nước và nhân dân. Vừa sản xuất vừa chiến đấu, Hà Nội tiếp tục giữ vững và nêu cao tinh thần quyết thắng lập nhiều chiến công mới. Đó chính là sức mạnh cổ vũ cho tinh thần đấu tranh của đồng bào miền Nam và là sự khẳng định chắc chắn vai trò hậu phương lớn chi viện cho tiền tuyến lớn của miền Bắc, góp phần thúc đẩy cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi vào mùa xuân 1975 lịch sử.

HÀ NỘI NGÀY NAY

Năm 1975 là một mốc lịch sử trọng đại trên tiến trình lịch sử Việt Nam nói chung và thủ đô Hà Nội nói riêng.
Cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội khoá VI (25/4/1976) đã hoàn thành thống nhất hai miền về mặt nhà nước. Hà Nội vẫn là Thủ đô của đất nớc, từ nay mang tên là nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Vượt qua những khó khăn do hậu quả chiến tranh để lại, Hà Nội phát huy cao nhất những thuận lợi cơ bản: sự thống nhất về chính trị và địa lý giữa hai miền, sự ủng hộ của đồng bào cả nước, huy động tới mức tối đa tiềm lực lao động chân tay, trí óc và sự hợp tác kinh tế của các nớc trên thế giới để khôi phục và phát triển kinh tế, văn hoá.
Sau đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986) với đường lối chiến lược đổi mới toàn diện đất nước, đại hội Đảng bộ Hà Nội lần thứ X đã xác định nhiệm vụ đổi mới của Thủ đô và nêu lên những chủ trơng và quyết sách góp phần đa thành phố ngày một tiến lên. Hà Nội đã từng bớc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Chính sách khoán hộ nông nghiệp và chế độ hợp tác mới đã khiến bộ mặt nông thôn các vùng ven đô thay đổi theo hướng ngày một ấm no hơn. Quá trình dân chủ hoá xã hội, xây dựng xã hội công dân, nhà nớc pháp quyền đã tạo điều kiện cho việc làm ăn kinh doanh sản xuất ngày một ổn định.
Cuộc đấu tranh chống tham nhũng, chống các tệ nạn xã hội đợc tiến hành thường xuyên liên tục và mang lại kết quả khả quan. Việc mở mang đầu t và hợp tác quốc tế cũng nh huy động nội lực trong nhân dân bớc đầu thu đợc những thành tựu. Với vai trò là trung tâm chính trị, văn hoá, khoa học, kinh tế của cả nớc, Hà Nội đã phát huy tiềm năng chất xám, bớc đầu tạo ra những chuyển biến trong các hoạt động kinh tế, văn hoá, văn nghệ, giáo dục và khoa học công nghệ. Ngày nay, Hà Nội đang vững bước tiến lên trên con đường công nghiệp hoá - hiện đại hoá của đất nước.

Đất Hà Nội xưa thuộc bộ Giao Chỉ, một trong 15 bộ của nhà nước Văn Lang. Vì hoàn cảnh địa dư của nước ta ngày xưa, các triều đình thường chọn Hà Nội làm đế đô. Vào thế kỷ thứ 3, Hà Nội là Long Biên , lỵ sở của Giao Châu. Thời Đường, đất này thuộc một trong tám huyện thuộc Giao Châu. Năm 791, thứ sử Triệu Xương đắp thành Đại La bên bờ sông Tô Lịch. Năm 862, quân Nam Chiếu đánh Giao Châu, nhà Đường sai Thái Tập đem ba vạn quân sang chống giữ và quân Nam Chiếu rút lui. Qua năm sau, tháng giêng năm Quý Mùi 863, Nam Chiếu lại mang năm vạn binh sang đánh Long Biên, giết chết tướng nhà Đường là Nguyễn Duy Đức và chiếm được thành và tàn sát 15 vạn dân ta. Đến năm 866, nhà Đường sai Cao Biền dẹp giặc Nam Chiếu, giết được tướng giặc là Đoàn Tư Thiên và giải vây thành Đại La vào tháng mười âm lịch. Năm 867, Cao Biền sửa sang lại thành, mở rộng thêm ra; ngoài thành cho đắp con đường dài gần bảy cây số, cao hơn năm thước. Năm 960 đến năm 1009, Hà Nội là quận Giao Chỉ. Triều đình và triều Tiền Lê đóng đô ở Hoa Lư.



Tháng bảy năm 1010, vua Lý Thái Tổ dời đô về thành Đại La. Sử viết rằng khi vua Lý Thái Tông vào thành Đại La thấy rồng hiện thành những đám mây lơ lững trên trời nên đổi thành là Thăng Long. Nhà Trần nối nghiệp nhà Hậu Lý từ năm 1225 đến 1400 cũng đóng đô tại Thăng Long. Quân Mông Cổ xâm lược nước ta đã chiếm thành Thăng Long hai lần vào những năm 1285 và 1287. Đời Lý, Trần trong thành Thăng Long có 13 trại, ngoài thành có 61 phường. Để chuẩn bị chiếm ngôi nhà Trần, năm Bính Tý 1396, Hồ Quý Ly ép vua Trần Thuận Tông phải bỏ thành Thăng Long, dời kinh về Tây Đô thuộc tỉnh Thanh Hóa, còn Thăng Long được gọi là Đông Đô. Sau đó nhà Hồ cũng đóng đô tại đây. Thời Minh thuộc Hà Nội là phủ lỵ của Giao Châu. Đến năm 1429 vua Lê Thái Tổ đánh đuổi xong giặc Minh, đóng đô ở Hà Nội và đặt tên là Đông Kinh. Dưới thời vua Lê Thái Tông, Đông Kinh là một phủ lỵ của hạt Phụng Thiên. Nhà Mạc sau khi giết chết vua Lê Chiêu Tông để cướp ngôi cũng đóng đô ở Hà Nội và gọi là Đông Kinh. Về sau vua Lê Trung Hưng đánh đuổi được nhà Mạc lại đóng đô ở Thăng Long. Đời vua Gia Long đất này là lỵ sở của bắc thàng tổng trấn và gọi là Long Thành.



Năm 1803, Long Thành được đắp lại theo kiểu tây phương và gọi lại là Thăng Long. Năm 1805 Thăng Long là phủ lỵ của phủ Hoài Đức. Phủ này gồm có hai huyện là Thọ Xương (8 tổng, 193 phường, thôn) và huyện Vĩnh Thuận (5 tổng, 54 phường, thôn, trại). Đến năm 1831, được đổi thành tỉnh lỵ Hà Nội. Năm 1888, Hà Nội được nhà Nguyễn nhường làm nhượng địa. Kể từ năm 1902, Hà Nội là nơi đặt các cơ quan trung ương của quân Pháp. Sau đó, huyện Hoàn Long được sát nhập vào thành phố Hà Nội.



Lịch sử đấu tranh của Hà Nội đã chói lọi từ hơn 10 thế kỷ trước. Thời Đường thuộc, năm 791, anh hùng Phùng Hưng dựng cờ khởi nghĩa, đem quân đi đánh chiếm Đô Hộ Phủ (làng Bích Câu), làm tên quan đô hộ là Cao Chính Bình khiếp sợ sinh bịnh mà chết. Làng Cơ Sá, huyện Thọ Xương, là nơi sinh trưởng của anh hùng Lý Thường Kiệt, năm 1076 phá Tống, bình Chiêm.Vào thế kỷ thứ 13, đời Trần, giặc Mông Cổ ba lần đem quân tiến đánh nước ta nhưng đều bị bại. Trong ba lần đó, thế giặc hung hãn lắm, vua tôi đều phải rời thành Thăng Long tìm kế chống giặc. Bên cạnh vua lúc gian khổ luôn có Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn cùng các danh tướng Trần Quang Khải, Trần Quốc Toản. Đuổi xong giặc, Thăng Long mở ba ngày hội "Thiên Bình Diên Yến" vui sướng biết chừng nào. Đất Thăng Long là nơi sinh trưởng của anh hùng Trần Quý Khoách; khi giặc Minh sai Trương Phụ và Vương Hựu đánh nước ta, từ 1409 đến 1413, anh hùng Trần Quý Khoách và anh hùng Nguyễn Biểu, Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị khởi nghĩa đánh thắng quân giặc nhiều trận. Thời Minh thuộc, giặc cai trị tàn ác, muốn đồng hóa dân ta, bao nhiêu sách vở giá trị chúng mang về Tàu. Năm Bính Ngọ 1426, Bình Định Vương Lê Lợi tiến quân ra Đông Đô, dân chúng Hà Nội và các nơi khác nô nức tham gia quân kháng chiến, đánh thắng khắp nơi, đuổi bọn Vương Thông về nước. Huyện Thọ Xương, làng Văn Chương là nơi sinh trưởng của vị vua anh hùng Lê Thánh Tông ( 1460-1497), con thứ tư của vua Lê Thái Tông; Ông là người thông minh, tài kiêm văn võ, một vị minh quân trong lịch sử Việt Nam, dưới sự trị vì của ông nước nhà phát triển đến mức cực thịnh. Vua là người đầu tiên cho vẽ bản đồ nước ta, sai Ngô Sĩ Liêm làm bộ "Đại Việt Sử Ký Toàn Thư" (chép việc từ đời Hồng Bàng đến đời vua Lê Thái Tổ), đặt bộ luật Hồng Đức để giữ yên trăm họ, mở rộng trường Thái Học, lập hội Tao Đàn phát triển văn chương.



Thời Tây Sơn, tháng 6 năm 1786, sau khi giải phóng Phú Xuân, anh hùng Nguyễn Huệ đã tiến quân vào Thăng Long trừ Vũ Văn Nhậm và tái lập Hà Bắc. Ngày 28-11-1788 gần 30 vạn quân Thanh tràn sang nước ta. Ngày 18-12-1788, Tôn Sĩ Nghị vào tới Thăng Long. Ngày 15-1-1789 (30 tháng chạp năm Mậu Thân) Quang Trung Hoàng Đế xuất quân từ Nghệ An ra miền bắc, cưỡi voi điều khiển quân chủ lực đi đầu đánh thẳng vào mặt nam thành Thăng Long, nơi Tôn Sĩ Nghị phòng vệ kiên cố nhất. Mùng ba Tết Kỷ Dậu, quân ta dẹp Hạ Hồi, mùng năm quân ta chiếm Ngọc Hồi, rồi phá bung thàng Đống Đa. Cánh quân Điền Châu chết chật đường đi, tướng giặc Sầm Nghi Đống treo cổ chết. Bình Nam Đại Tướng Quân nhanh chân rời khỏi Thăng Long mà quên cả ấn tín, mật chỉ. Trong tiếng quân reo hò phá vỡ thành Thăng Long, người dân Hà Nội luôn luôn nhìn thấy các danh tướng anh hùng như Võ Văn Dũng, Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân, Đặng Văn Chân, Trần Quang Diệu, anh thư Bùi Thị Xuân... đi tiên phong. Chiến sự xảy ra trong năm ngày, quân Thanh hoàn toàn tan rã. Mùng năm Tết Quang Trung vào tới Thăng Long cho ba quân làm lễ khai hạ. Sau đó cho đắp thành Hà Nội gọi là Bắc Thành.



Năm 1872, quân Pháp cử Francis Gamier đem quân từ Gia Định ra, muốn đóng quân trong thành Hà Nội. Nguyễn Tri Phương không cho, nên chúng mang quân đóng ở Trương Thi. Ngày 20-1-1873, quân Pháp tấn công thành Hà Nội. Nguyễn Tri Phương cùng con là phò mã Nguyễn Lâm lên mặt thành đốc quân chống giữ. Nhưng khoảng sau một giờ, thành vỡ, anh hùng Nguyễn Lâm tử trận. Còn anh hùng Nguyễn Tri Phương bị thương nặng, quân Pháp đưa ông xuống tàu, nhưng ông nhất định không cho giặc buộc thuốc rồi nhịn ăn chết theo thành. Tháng 2 năm 1882, quân Pháp cử Henri Rivieres đánh Hà Nội lần thứ hai. Lúc tám giờ sáng ngày 25-4-1882 quân Pháp tấn công Hà Nội gặp phải sự chống trả dữ dội của quân ta dưới sự điều động của Tổng Đốc Hoàng Diệu. Nhưng vì vũ khí thô sơ nên không giữ nổi thành, anh hùng thảo tờ biểu tạ tội với vua rồi lấy khăn bịt đầu thắt cổ tự tử.



Tháng 5-1907, một số nhà yêu nước như Lương Văn Cang, Nguyễn Quyền, Lương Trúc Đàm, Đỗ Trung Thiết, Nguyễn Hùng Hương... thành lập Đông Kinh Nghĩa Thục tại Hà Nội để dạy học mở mang dân trí, diễn thuyết truyền bá tư tưởng đấ? tranh. Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục phát động rộng rãi trong cả nước. Ngày 27-6-1908, các nghĩa quân Yên Thế và Việt Nam Quang Phục Hội phối hợp với binh lính Việt đầu độc quân Pháp trong thành Hà Nội. Nhưng công việc không thành vì nội gián, quân Pháp bị đầu độc nhưng không nặng. Giặc khủng bố ngay, đem chém cả Nguyễn Văn Phúc, Nguyễn Chi Bình, Nguyễn Cốc, Đặng Nhân, Nguyễn Đức A, Cai Rôn, Đỗ Đảm, Hai Hiền, bà hàng cơm Nguyễn Thị Ba... tại Bãi Gáo, rồi đem bêu đầu ở chợ Mơ, Ô Cầu Rền, Ô Cầu Giấy. Giặc còn chụp hình đầu những người yêu nước in trên bưu thiếp phổ biến khắp nơi nhằm khủng bố tinh thần dân chúng hòng ngăn chặn phong trào kháng Pháp. Cùng năm 1908, Quang Phục Hội hoạt động mạnh, tổ chức chuyển vũ khí, đạn dược về nước, ngày 16 - 4, nghĩa quân ném bom tại khách sạn Hà Nội giết nhiều sĩ quan Pháp. Quân Pháp lại thẳng tay đàn áp với các án tử hình, giam cầm, đày ải, trời Hà Nội như có đại tang. Các anh hùng Đỗ Chân Thiết, Phạm Văn Tráng, Nguyễn Văn Túy, Nguyễn Khắc Cần, Phạm đế Quý, Vũ Ngọc Thụy, Phạm Hoàng Quế, Phạm Hoàng Triết bị giết tại Hà Nội. Anh hùng Lương Văn Cang bị đày đi Nam Vang. Năm 1915 anh hùng Lương Ngọc Quyến bị tên phản quốc Nguyễn Bá Trác đã chỉ điểm cho quân Pháp bắt tại Hà Nội.



Năm 1925 anh hùng Phan Bội Châu bị bắt tại Thượng Hải đem về Hà Nội kết án. Cuối năm 1925 đó, Nam Đồng Thư Xá được thành lập do Phạm Tuấn làm chủ nhiệm, chuyên xuất bản sách yêu nước, gây ảnh hưởng sâu rộng trong giới trí thứ, sinh viên học sinh... Ngày 13-6-1927, anh hùng Lương Văn Can từ trần, sau khi quân Pháp thả ông về năm 1924. Ngày 15-12-1927, Việt Nam Quốc Đảng ra đời tại làng Thể Giao, Hà Nội, do anh hùng Nguyễn Thái Học lãnh đạo, hoạt động sâu rộng trong quần chúng. Ngày 9-2-1929, tên mộ phu gian ác Ba in bị giết chết tại chợ Hôm. Tháng 2-1930, khi cuộc khởi nghĩa Yên Bái bùng nổ thì ban ám sát của Đặng Trần Nghiệp tổ chức ném bom các cơ quan tổ chức trong thành phố. Việc khởi nghĩa bị thất bại, vào tháng 12-1930 và tháng 6-1931, quân Pháp xử tử các anh hùng Đặng Trần Nghiệp, Lương Ngọc Tốn, Nguyễn Văn Nho, Nguyễn Quang Triều, Nguyễn Minh Luân, Nguyễn Trọng Bằng, Trần Văn Khuê, Lê Hữu Cảnh, Nguyễn Xuân Huân tại ngục thất Cửa Lò. Những tấm gương trung liệt vì nước vì dân nói trên đã làm sáng ngời tranh đấu sử Việt.

Khu phố cổ Hà Nội



Khu phố cổ Hà Nội là khu phố nằm xung quanh Thành cổ Hà Nội và mang đậm nét văn hóa cổ xưa của Hà Nội, Việt Nam. Hà Nội xưa thường được cho là có "36 phố phường", mỗi tên phố thường mang đặc trưng của một ngành nghề thủ công truyền thống.

Theo quyết định số 70 BXD/KT-QH ngày 30 tháng 3 năm 1995 của Bộ Xây dựng, khu Phố cổ Hà nội có phạm vi được xác định: phía Bắc-Phố Hàng Đậu; phía Tây-Phố Phùng Hưng; phía Nam-Các phố Hàng Bông, Hàng Gai, Cầu Gỗ và Hàng Thùng; phía Đông-các phố Trần Quang Khải và Trần Nhật Duật.

Như vậy, khu phố cổ Hà Nội thuộc địa bàn quận Hoàn Kiếm, có 76 tuyến phố thuộc 10 phường, tổng diện tích quy hoạch khu phố cổ khoảng 100 ha: Phường Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Buồm, Hàng Bồ, Hàng Bông, Hàng Gai, Hàng Mã, Đồng Xuân, Cửa Đông, Lý Thái Tổ.

Phạm vị nghiên cứu quy hoạch được phân chia hai khu vực bảo vệ, tôn tạo đặc trưng như sau:

1. Khu vực bảo vệ, tôn tạo cấp 1: Được giới hạn bởi các phố Hàng Chiếu, Hàng Đường, Hàng Ngang, Hàng Bạc, Hàng Mắm và Trần Nhật Duật (diện tích khoảng 19 ha).
2. Khu vực bảo vệ, tôn tạo cấp 2: Bao gồm phần còn lại trong ranh giới khu Phố Cổ.

Kiến trúc cổ của khu phố này là các ngôi nhà nhỏ bé với mái tranh hay mái ngói, thường có sân chung, lô nhô nối tiếp nhau từ dãy phố này đến dãy phố khác. Khu phố này cũng đã từng là đề tài của nhiều văn nghệ sĩ làm nên những giá trị văn hóa ngày nay của Hà Nội. Ngày nay nhiều khu phố đã xuống cấp, phải trùng tu để nâng cấp lại.

Khu phố cổ cũng là nơi buôn bán sầm uất nhất Hà Nội và là nơi có nhiều khách du lịch đến thăm.

Việt Nam thi văn hợp tuyển của Dương Quảng Hàm có ghi lại ca dao về 36 sáu phố ở Hà Nội như sau:

Rủ nhau chơi khắp Long thành
Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai:
Hàng Bồ, hàng Bạc, hàng Gai,
Hàng Buồm, hàng Thiếc, hàng Hài, hàng Khay,
Mã Vĩ, hàng Điếu, hàng Giầy
Hàng Lờ, hàng Cót, hàng Mây, hàng Đàn,
Phố Mới, Phúc Kiến, hàng Ngang,
Hàng Mã, hàng Mắm, hàng Than, hàng Đồng,
Hàng Muối, hàng Nón, cầu Đông,
Hàng Hòm, hàng Đậu, hàng Bông, hàng Bè,
Hàng Thùng, hàng Bát, hàng Tre,
Hàng Vôi, hàng Giấy, hàng The, hàng Gà,
Quanh đi đến phố hàng Da,
Trải xem hàng phố, thật là cũng xinh.
Phồn hoa thứ nhất Long thành,
Phố giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ.
Người về nhớ cảnh ngẩn ngơ,
Bút hoa xin chép vần thơ lưu truyền.
           

(Theo Người Hà Nội)
Nhật ký bình chọn chủ đề này thời gian gần đây

TOP

Ẩm Thực Hà Nội



Bánh tôm Hồ Tây


Chẳng biết bánh tôm Hồ Tây có từ bao giờ. Chỉ biết có người Hà Nội phiêu bạt làm ăn mãi tận Sài Gòn hay tận Australia, tận Pháp, ngày về thăm quê vẫn tìm đến hỏi "bánh tôm Cổ Ngư".
Gọi là bánh tôm Hồ Tây, nhưng nơi làm và bán thứ bánh độc đáo này lại nằm trên bờ hồ Trúc Bạch, cách biệt hẳn với Hồ Tây bằng đường Thanh Niên rộng thoáng. Nghe nói ngày trước, ở đây chỉ có vài cái quầy lụp xụp, đơn sơ vừa bán bánh tôm vừa bán bia hơi, trời mưa khách chả biết chạy đâu, đành chịu đứng giữa trời cho mưa xối. Nay bánh tôm Hồ Tây được phục vụ trong một nhà hàng bề thế mấy trăm chỗ ngồi, thấp thoáng trong những tán cây si, cây đa râm mát lộng gió.
Cách thức làm ra cái bánh tôm có vẻ như đơn giản. Bột mỳ, thêm ít bột ủ chua, ít bột nở, ít bột ca-ri nghệ, hòa với nước cho sền sệt. Tôm tươi cắt râu, rửa sạch. Chảo mỡ nóng già, quệt bột lên khuôn, gắn một hai con tôm, thả vào. Cái bột, cái mỡ gặp nhau, chỉ sau mấy phút reo hò mừng rỡ trong chảo là cái bánh tôm đã nổi lên, chờ một lúc cho bánh già, vớt ra để ráo mỡ rồi đem ra phục vụ khách ngay. Nói thì đơn giản thế, nhưng nghề này cũng có lắm công phu. Nào lượng bột bao nhiêu, lượng nước ít nhiều, giữ tôm tươi, lửa lò nóng sao cho bánh không non quá cứng không bị cháy đen... Ấy là bí quyết của nhà hàng. Có thế mới giữ được khách, mới bán được hàng.
Cũng cần kể đến nước chấm bánh tôm, nó cũng gần giống nước chấm bún chả vậy, phải đủ các vị chua, cay, mặn, ngọt. Nhưng chỉ vừa đủ, để chúng hòa vào nhau, thành một thứ nước chấm ngon lành đến độ uống suông cũng hết cả bát. Nhà hàng cũng phải có công thức nước chấm riêng, bao nhiêu năm trời vẫn pha một cách ấy.
Bánh tôm được bán theo suất. Một suất mấy cái cũng được tính cả. Có người khen cái suất ở đây khéo quá, ăn hết miếng cuối cùng là không muốn ăn thêm nữa. Thường thì người ta cắt hai suất vào một đĩa (vì khách cũng thường đi có đôi). Một đĩa bánh, kèm một đĩa rau sống đặt giữa bàn ăn, mỗi người một bát nước chấm riêng để trước mặt. Nhìn vào bàn ăn món bánh tôm thấy được sự hài hòa của mầu sắc. Cái bánh vàng rộm điểm con tôm đỏ tươi nổi bật trên nền men sứ trắng. Rau xà lách xanh nõn nà, rau thơm xanh thẫm. Trong bát nước chấm nổi những miếng đu đủ thái mỏng trắng xanh chen với dăm lát ớt đỏ mọng. Cái cách người sành ăn là thế.
Lại nói đến cách ăn. Khách cầm đũa gắp một miếng bánh tôm, kèm mấy lá rau xanh thả vào bát nước chấm. Ðừng mải chuyện, cái bánh dầm lâu trong nước chấm nhũn ra, mất ngon. Bây giờ gắp cái bánh lên, bỏ cho gọn vào mồm đừng để giây nước chấm ra mép. Thế... và bạn sẽ cảm thấy được cái giòn tan của bột, cái béo của mỡ, cái bùi của tôm, cái mát của rau, cái giòn ngọt của đu đủ, thấy được sự hài hòa chua-cay-mặn-ngọt đang tan trên đầu lưỡi. Và bạn sẽ chỉ nói được một lời, rằng: - Ngon!
Bánh tôm Hồ Tây - một thứ quà giản dị - cũng góp phần làm nên bản sắc riêng cho đất Thăng Long nghìn năm văn hiến.


Bún cá


Trong các món quà Hà Nội, có một món có thể ăn ở mọi chỗ mọi nơi, vào nhiều thời điểm: sáng, trưa, chiều, tối, vừa sang trọng lại vừa dân dã, hợp với khẩu vị nhiều người, đó là món bún.
Nhưng lại phải nói, quà bún Hà Nội cũng không thể có món gì phong phú bằng. Có thể liệt kê: bún thang, bún chả, bún nem, bún mọc, bún ốc, bún riêu cua, bún măng, bún bung, bún dọc mùng chân giò lợn, bún dọc mùng sườn ninh, bún riêu nhót trứng cua và bún cá!
Mười mấy món bún vừa kể, chỉ riêng bún riêu nhót trứng cua và bún cá thì đến mùa mới có.
Cuối tháng ba âm lịch, trái nhót chín đỏ vườn, cũng là lúc cua đồng sắp đẻ. Người ta hái nõn cây khoai nước, rồi bắt con cua chửa, gạt lấy trứng của nó, ốp quanh trái nhót, mở từng chiếc nõn khoai ra gói lại, thả vào nồi canh cua sau khi đã giã lọc, đun sôi và nêm gia vị. Nồi canh cua đồng có nhót trứng cua ấy, tuy vẫn gọi riêu cua, nhưng chan vào tô bún, sắc mầu, mùi vị khác hẳn các loại riêu cua không có nhót.
Còn bún cá thì lại phải đợi đến mùa rau cần. Ðó là vào hai tháng một, chạp gần Tết Nguyên đán, cũng có khi kéo sang tháng giêng âm lịch.
Như hồng thì phải đợi cốm, thịt gà phải có lá chanh, thịt chó phải kèm riềng cùng mơ tam thể, gỏi cá phải cặp với lá đinh lăng, võng cách... Ông cha ta gọi những thứ đó là "hèm". Hèm này thức nọ, nó như một thứ "tình duyên" trời định hay người định, cũng không tách rời nhau được. Ấy thế, rau cần nhất thi�t phải kết cùng bún cá. Bún cá mà thiếu rau cần, chẳng khác mâm cơm dọn ra, bên này có anh bên kia thiếu chị, sẽ chông chênh, lệch lạc, đểnh đoảng hẳn đi!
Cá để làm bún cá, thông thường là cá quả, miền nam kêu là cá lóc. Con cá quả từ 3 lạng đến nửa cân, sau khi đánh vảy, chặt vây, người nội trợ lấy dao thật sắc lọc lấy hai bên lườn, thái mỏng vừa phải, rồi cho vào chảo mỡ rán (chiên) giòn cháy cạnh. Xương và đầu cá cho vào một chiếc nồi khác đổ nước hầm kỹ và nêm gia vị, có thêm một chút dọc hành, rau thìa là thái nhỏ, đó là thứ nước để chan.
Rau cần mua về nhặt bỏ rễ, rửa sạch, cũng đem thái khúc chừng 2,5 cm, rồi đem xào tái. Mỗi tô bún khi ăn, người ta cho một lượng bún cần thiết, sau đó bỏ thêm hai phần ba cần xào tái, một phần ba cần sống, rải những miếng cá rán cháy cạnh lên trên và múc nước chan ngập vào, ăn ngay thật nóng. Tôi cam đoan nhìn tô bún cá bốc khói thơm ngào ngạt, ai cũng phải thèm. Và đến khi đưa vào miệng, cái vị giòn và ngậy của cá, cái vị thơm thanh khiết của hai thứ cần tái, sống, cái vị ngọt đậm lừ của món nước dùng từ xương và đầu cá tiết ra... Chẳng ai ăn chỉ một tô mà thấy đã!
Bạn đọc ai có dịp ghé qua Hà Nội đúng mùa cần, xin hãy tìm hàng bún cá ăn chơi cho biết.


Bún ốc Phủ Tây Hồ


Ở Hà Nội có rất nhiều món ăn ngon rất nổi tiếng và đã đi vào danh mục ẩm thực của những món ăn đặc trưng như: chả cá Lã Vọng, cơm rang thập cẩm phố Hàng Dầu, phở, nộm bò khô, nem rán phố Mai Hắc Ðế, ốc hấp thuốc bắc Quảng Bá... Nhưng mỗi khi xa Hà Nội tôi lại nao lòng thèm muốn với nỗi nhớ cồn cào một món ăn rất dân dã, rất đặc trưng và đặc biệt là rất ngon, đó là món bún ốc ở phủ Tây Hồ. Vâng! Quả đúng là không chỉ riêng tôi, mà rất nhiều người, nhất là những ai đã sinh ra và lớn lên ở thủ đô, hoặc là du khách tới Hà Nội đã từng có dịp thưởng thức món ăn này, đều không dễ gì quên được. Ðã từng ăn bún ốc tại nhiều nơi ở Hà Nội, ở Hải Phòng và cả TP Hồ Chí Minh nhưng chẳng đâu có thể sánh kịp vị ngon đạt tới độ tinh xảo như ở phủ Tây Hồ.
Ngày trước ốc dùng để làm bún người ta vớt luôn dưới lòng Hồ Tây, bởi lẽ ốc ở dưới rất nhiều và nhiều đến nỗi một người cào tiếng đồng hồ là được cả gần tạ ốc rất béo và to. Bây giờ Hồ Tây ít ốc nên người ta phải đi thu mua ốc tận nhiều nơi mà chủ yếu là ốc bươu vàng hay ốc nhồi.
Ðể làm tăng thêm vị ngon của bát bún ốc, các chủ nhà hàng thường rất kỹ càng trong khâu chọn ốc. Ốc phải không được ngâm quá lâu. Ngay cả bún cũng vậy, những nhà hàng ở đây chỉ đặt duy nhất với một làng nghề sản xuất, đó là: Phú Ðô ở huyện Từ Liêm bởi lẽ sợi bún rất nhỏ, săn, không nhão và khi chan nước ăn vẫn giòn và dẻo mà lại không nát. Hơn thế nữa, bún lại trắng và được chế biến hợp vệ sinh. Không ít gia chủ còn đặt hẳn ở làng bún sản xuất bún bằng gạo tám thơm có pha chút gạo nếp cái hoa vàng để tăng thêm hương vị cho bát bún ốc. Gia vị để chế biến bún ốc bao gồm rất nhiều thứ như: cà chua, tai chua, giấm bỗng rượu, mỡ, tiêu, mì chính, muối, đường, ớt... và các loại rau sống, gia vị ăn kèm như: xà lách, tía tô, kinh giới, húng láng, mùi, rau chuối non thái mỏng.
Cách làm bún ở đây cũng chỉ đơn giản như mọi nơi nghĩa là ốc luộc lên sau đó khều lấy cái bỏ vào xào săn cùng mỡ và gia vị mắm, mì chính. Nước ốc làm nước dùng chan bún sau khi đã được ninh sôi bỏ cà chua và các gia vị đặc trưng của món nước dùng bún ốc. Trong nước dùng chan bún ốc có bỏ xương ống lợn ninh cùng để nước thêm ngọt. Ngoài ra một chút bí quyết "làng nghề" mà ta không dễ gì biết được càng làm tăng thêm nét đặc sắc, nét riêng của món bún ốc ở đây.
Khi khách ăn gọi bún ốc người ta chỉ bỏ ốc vào bát, bỏ bún đã chần qua nước sôi rồi chan nước dùng là ăn được. Một đĩa rau sống hấp dẫn, một đĩa ớt chưng đỏ bày trên bàn sẽ làm tăng thêm cảm giác ngon nhưng cũng rất cay, mà nếu bỏ nhiều ớt thì cay đến bỏng cả lưỡi.
Nơi đây có tới mấy chục nhà hàng bán bún ốc suốt con đường nhỏ dẫn vào phủ Tây Hồ và nhà hàng nào khách cũng ra vào tấp nập. Người Hà Nội, khách thập phương đi lễ ở đây đều muốn ăn bún ốc nơi này. Cũng có thể bún ốc ở đây là đặc biệt và những lều lán như kiểu quán gió cùng phong cảnh trữ tình thơ mộng của Hồ Tây càng làm khách thích thú, lưu luyến, ngon miệng và nhớ mãi... Chẳng thế mà nhiều người bạn tôi đã từng có nhiều ký ức về món bún ốc ở phủ Tây Hồ và hiện đang sinh sống, học tập tại nhiều nước trên thế giới đều vẫn có một nỗi nhớ thường trực về phủ Tây Hồ, trong muôn vàn nỗi nhớ quê hương.

Cháo khuya Hà Nội


Hà Nội có nhiều con đường, ngõ phố vẫn thường thức rất khuya. Trên các phố này, đã lâu hình thành nên những quán xá, những dãy hàng ăn, hoặc thành cả một khu ăn uống phục vụ cho người hay ăn đêm. Ở ngõ Cấm chỉ phố Tống Duy Tân, hàng quán mọc san sát nhau, dài suốt đoạn phố, bán cả ngày lẫn đêm, lúc nào cũng rộn người. Cũng lại có nhiều phố khác như phố Mai Hắc Ðế, phố Lý Quốc Sư, phố Quán Thánh - Hàng Bún... những hàng ăn chỉ mở về đêm, dọn ra từ lúc chiều tối, bán đến tận 2-3 giờ sáng hoặc đến rạng sáng hôm sau thì nghỉ, trả lại hè đường cho sinh hoạt ban ngày.
Hàng ăn khuya bán đủ thứ món. Từ món chân gà, dạ dày, tiết canh, lòng lợn... cho nhân dân; rồi đến bao nhiêu là món ăn no, nào phở bò, phở gà, miến lươn, miến cua, bún ngan, cơm rang, mì xào... và cả mì vằn thắn quen thuộc cũng có mặt nơi này.
Nhưng trong mớ thực đơn phong phú ấy, dường như món cháo là phổ biến hơn cả, hầu như ở các phố về đêm nào cũng đều có bán. Và chỉ cháo thôi nhưng cũng được chế biến nhiều thứ: cháo sườn, cháo óc, cháo tim, bầu dục (cật), cháo gà, cháo cá quả... Cháo khuya Hà Nội có thú vị riêng, dường như hơi khác so với những món cháo vốn quen thuộc ở Sài Gòn.
Ðầu phố Trần Xuân Soạn có một quán bán duy nhất món cháo trai và thường xuyên đông khách, từ chiều tối cho đến tận khuya. Nếu như ở Sài Gòn có những món cháo hải sản bình dân như món cháo nghêu, cháo sò huyết thì ở đây có món cháo trai khá lạ - cháo nấu với thịt con trai. Người địa phương sành món cháo trai, khoe rằng: "Do đặc điểm sông nước từng vùng có khác nhau nên cùng một loài hải sản vỏ cứng, nhưng nghêu sò ở miền nam thường không ngọt thịt bằng con trai ngoài này". Sài Gòn nấu món cháo nghêu, cháo sò huyết thì thịt của chúng, sau khi tách khỏi vỏ, được bỏ vào nấu cùng với cháo, chất ngọt thịt của nghêu, sò hòa hẳn vào trong bát cháo. Ngược lại món cháo trai Hà Nội thì cách làm có khác, thịt trai để riêng như một món dùng ăn với cháo. Con trai khá to, cho nhiều thịt, được ninh lên lấy nước nấu cháo, còn thịt của chúng thì cắt nhỏ, xào lên thật thơm cùng với gia vị được nêm nếm vừa miệng. Cháo múc ra bát xong mới để thịt trai đã xào lên làm mặt cùng với hành, tiêu, ớt bột, khách tự trộn đều và ăn cùng với quẩy.
Ở góc Quán Thánh - Hàng Bún có rất nhiều hàng cháo óc, cháo tim, cháo bầu dục, cháo cá quả... Cứ trời vừa hơi sụp tối là hàng được dọn ra, nối thành một dãy dọc vỉa hè. Dưới ánh sáng mờ của chiếc bóng đèn tròn mắc dã chiến, khách ngồi ăn quanh những băng ghế sơ sài. Ấy vậy nhưng tối nào cũng đông. Cháo tim, cật, rồi cháo óc, cháo cá... vốn không lạ, tuy nhiên có khác là cháo ở Hà Nội thường được nấu thật đặc chứ không hay nấu loãng như phổ biến ở các món cháo của Sài Gòn. Gạo đem nấu cháo có một phần là gạo đã ngâm, giã sẵn, hạt nhỏ gần như tấm, đem nấu thành cháo, để lửa cho sôi đến lúc chừng như quánh đặc lại, gần giống một dạng bột ăn. Bát cháo vẫn khá ngon nhưng có vẻ thiếu chất nhựa cháo quen thuộc của cháo nấu từ hạt gạo nguyên đến lúc thật nhừ.
Gánh cháo khuya bán lâu năm và nhiều người vẫn cho rằng rất ngon là gánh cháo "quát" ở phố Lý Quốc Sư. Bà "quát" bây giờ tóc đã bạc, vẫn ngồi bán ở cái nơi quen thuộc cũ mặc dù đã có thêm một quán cháo lịch sự ở phố Nhà Thờ gần đó. Các cô cháu gái vẫn phụ bà bưng bê. Và, có lẽ vì quá đông khách nên bà vẫn nay quát này mắng nọ, khiến trở thành một đặc điểm mà mọi người thuận miệng gọi tên khi nhắc đến gánh cháo của bà: cháo "quát". Quả thực, cũng chỉ là bát cháo gà nhưng ăn ở hàng bà "quát" thì cực ngon. Cháo được nấu từ hạt gạo nguyên, không giã, nấu đến thật nhừ nên nước cháo lềnh lên vì nhựa cháo, và cũng không quánh đặc lại như dạng cháo bột. Bát cháo thơm phảng phất mùi hành hoa, mùi lá tía tô, mùi các loại gia vị, lại hấp dẫn thêm bởi những miếng gà ta dai và ngọt thịt...
Mấy chị hàng cháo ở phố Quán Thánh bảo cháo khuya bán được nhất vào mùa hè, trung bình vào mùa thu, và thường thưa thớt người ăn vào mùa đông. Hà Nội bây giờ đã bắt đầu se lạnh và hương hoa sữa bay thơm nức. Những người làm đêm, những thanh niên đi chơi về muộn... như quen lệ, vẫn ghé vào hàng làm một bát cháo nóng ấm lòng.


Giò, chả Ước Lễ


Người dân Ước lễ tự hào làng mình xưa nổi tiếng khắp Hà Ðông, là một trong sáu làng được vua Tự Ðức sắc phong "mỹ tục khả phong" và nổi tiếng với nghề gia truyền đặc sản: nghề làm giò lụa, chả quế.
Thôn Ước Lễ (xã Tân Ước, Thanh Oai, Hà Tây) cách Hà Nội khoảng 30 km về phía tây nam. Thôn chỉ rộng khoảng 1 km2, với gần 450 hộ dân. Người Ước Lễ không nhớ rõ nghề làm giò, chả quê mình có từ khi nào, chi biết rằng tiếng chày giã thịt nghe đã quen thuộc khi họ còn tấm bé. Anh Nguyễn Ðăng Hùng - trưởng thôn Ước Lễ cho biết: "Có lẽ nghề gia truyền của thôn chúng tôi có từ hơn 100 năm nay. Từ thời cụ tôi, nghề giã thịt làm giò lụa, chả quế đã rất thịnh". Trước đây, hầu như năm nào người dân Ước Lễ cũng phải ăn Tết muộn, bởi cứ giáp Tết, tất cả mọi người đều tập trung làm hàng, cung cấp giò chả cho khách khắp mọi nơi. Rằm tháng Giêng mới thực sự là những ngày Tết của họ.
Giò Ước Lễ khác hẳn với giò của những nơi khác. "Xanh ở vỏ ngoài, hồng ở nhân trong, có nhiều lỗ nhỏ" - ông Hoàng Ước, năm nay đã 72 tuổi nói. "Muốn có giò ngon phải có thịt ngon. Thịt lợn tươi, nạc, lọc bỏ hết gân cho vào cối giã. Trước tiên là giã dập, chỉ cần giã một tay, sau khi thịt nát thì thúc đều hai tay để thịt không bị bắn ra ngoài, rồi cho nước mắm, mì chính vào giã tiếp cho đến khi thịt quánh lại. Cối giã giò phải là cối đá, nặng, chày và thớt thái thịt đều được làm bằng gỗ nghiến rất rắn chắc.
Khi giã xong, gói giò trong lá chuối sạch, buộc chặt bằng lạt để luộc. Nghệ thuật xếp lá chuối gói giò khá công phu: lớp lá non trong cùng (để giò có mầu xanh), rồi xếp từng lớp tiếp thật khít, chắc chắn để cuốn được một khối tròn đều. Miếng giò ăn ngon, giòn, không bị bã. Ðặc biệt là giò Ước Lễ không bao giờ pha bột, có lẽ vì vậy mà luôn được khách hàng tín nhiệm.
Làm chả quế cũng lắm công phu. Thịt làm chả quế cũng là thịt nạc, giã nhuyễn rồi cho một lượng bột quế vào trộn đều. Ðắp nguyên liệu trên vào một ống bương to (bây giờ người ta dùng ống nhôm) - người Ước Lễ gọi là "giằng chả", rồi nướng trên bếp than hồng, thỉnh thoảng lại quết một lượt hỗn hợp mỡ và phẩm mầu thực vật cho đến lúc chín. Chả quế Ước Lễ vừa ngon, ngọt, thơm mùi quế đặc trưng rất hấp dẫn.
Sống được bằng nghề không phải dễ. Nếu như có một số làng nghề truyền thống đã bị thất truyền, thì đến tận bây giờ, người dân Ước Lễ vẫn tự hào là họ có thể sống bằng nghề truyền thống của mình. Chỉ có điều, họ không làm giò lụa, chả quế tại chính quê hương của mình mà đã đem nghề đi nơi khác kiếm sống. Chính vì vậy mà thôn Ước Lễ hiện chỉ còn khoảng gần 200 hộ dân sinh sống. Hà Nội là nơi có nhiều người Ước Lễ làm ăn. Nhà hàng Việt Hương (phố Huế) là nơi mà khách sành ăn ở Thủ đô hay lui tới. Cửa hàng giò chả Hồng Ðạt (chợ Thành Công), cửa hàng nhà ông Bính Cường (Ngã tư Vọng), cửa hàng của anh Quang (chợ Mai Ðộng)... là những nơi tiêu thụ hàng nhanh và nhiều nhất. Mỗi ngày, các cơ sở này bán được hơn 20, 30 kg hàng gồm đủ loại. Ngoài giò lụa, chả quế, người ta còn làm cả giò bò, giò gà, chả bìa, chả cốm...

TOP

Càfê Hà Nội


Người HN xưa nay có thói quen ăn quà sáng lưng lửng dạ, rồi làm 1 tách cafê nóng – vừa tỉnh táo, lại vừa thư thái sảng khoái đầu óc trước khi bước vào 1 ngày mới. Chả thế mà những quán café hồi ấy (và có lẽ cả bây giờ nữa) lại không hề bề thế, đèn đuốc sáng trưng, mà bé nhỏ khiêm tốn nằm rải rác xen giữa những hàng quà. Sáng sáng dạo qua các khu phố cổ hẹp quanh co chợt thấy ngồ ngộ tròn tròn những nấm ngưòi quây quần ấm cúng, hệt như một đại gia đình sum họp trước mỗi dịp lễ lớn. Không cần bàn, chẳng cầu kỳ ghế tựa, nhiều khi tách cafê bưng ra đặt trên một cái ghế đẩu con con tạm gọi là bàn, lưng xoay ra. đôi mái đầu nghiêng chụm bên tách cafê mới pha nóng hổi, ngầy ngậy thơm, dìu dịu đắng... – rồi câu chuyện bắt đầu.
Có điều là lạ là hầu như không mấy quán café có không khí ồn ào náo nhiệt. Người rì rầm trao đổi, bàn bạc, ngưòi lại trầm tư lơ đãng. Không ai can thiệp hay tò mò để ý tới ai. Một không khí trầm, ấm cúng nhưng cũng rất riêng tư. Có lẽ sắc nâu và vị càfe đắng khiến người ta trầm hơn, tạm thời lắng xuống những lo toan vất vả của đời thường.
Đất nước thời mở của, HN với dáng vẻ tĩnh mịch cổ xưa cũng vươn mình đón những thay đổi mới. Nền kinh tế thị trường làm sôi động đất Hà Thành với hàng hoá tràn ngập, đáp ứng những nhu cầu mới, thị hiếu mới. Người HN bận rộn hơn, ít có giây phút lãng đãng hơn; nhà cao hơn, cửa rộng hơn; xe cộ đi lại đông hơn, không khí thành phố trở nên khẩn trương... và các quán café cũng ít nhiều thay đổi theo cơ chế mới. Xuất hiện những quán trà mới kiểu phương Tây, (trước là Lipton, rồi đến Dilmah, Qualitea...); rồi trà Đài loan, trà Singapore, trà Nhật Bản ... với trang trí mang tính thẩm mỹ, nội thất cầu kỳ, khá ấn tượng với không gian rộng và trang thiết bị nghe nhìn hiện đại. Càfê theo kiểu phương Tây cũng du nhập vào VN, phục vụ phổ biến tại khách sạn, quán bar với các style nổi tiếng như Esperranso, Capucino... nhưng xem chừng dân HN không mấy mặn mà với những style này cho lắm: nhạt, nhiều, cafein tách đến mất hết cả vị đắng truyền thống kiểu Việt Nam. Cà fê Trung Nguyên vốn là gu Sài Gòn cũng ồ ạt tràn ra thử chiếm lĩnh thị trường miền Bắc. Công nhận là hãng này chịu khó tìm tòi điều chỉnh công thức pha chế sao cho phù hợp với gu của dân xứ lạnh, nhưng cũng chỉ đáp ứng phần nào, chủ yếu là phục vụ giới trẻ và những người tiêu dùng theo thị hiếu. Còn thì đa số dân ghiền cafê vẫn trung thành tìm đến những quán café quen thuộc nổi tiếng xưa kia. Một điều thú vị là một số quán cũ này, dù rằng dến nay không còn nhiều nữa, vẫn không thay đổi phong cách chạy theo thị hiếu mới. Bạn vẫn có thể bắt gặp những gian nhà với khung cửa thấp, hẹp, bàn ghế gỗ giản dị xỉn màu thời gian như Café Lâm ở Nguyễn Hữu Huân, Café Năng phố Hàng Mắm, Café Nhĩ số 3 Hàng Gà, Café Giảng đầu Hàng Gai, Café Nuôi ở Lưng Văn Can, Café Nghĩa ở Đường Thành, Café Nhân ở Nguyễn Thái Học. Đầu Nguyễn Du xen giữa những hàng phở cũng có một quán khá đông khách mà tôi quên mất tên, rồi Café Thái đầu Triệu Việt Vương, Café Quất ở Quan Thánh (đặc cực kỳ... Mới xuất hiện gần đây và có thay đổi một chút về phong cách thì có Café Quỳnh (của diễn viên ĐA Như Quỳnh) đầu phố Bát Đàn, Café Bùi Bài Bình ở Lê Đại Hành... Café Mai ở Lê Văn Hưu, mà trước đây chỉ chuyên rang xay cafe giờ lại mở thêm cửa hàng phía bên kia đường, phục vụ khách có nhu cầu thưởng thức, cũng vừa quảng cáo luôn.
Một quán café, mà sẽ là thiếu sót nếu không đề cập đến trong bài này, là Café Nhân Hàng Hành. Café cụ Nhân nổi tiếng khắp Hà thành một thời, bây giờ lại được con cháu cụ nối tiếp nghề ông cha. Trải qua nhiều cải tạo và nâng cấp, quán giờ đã là 1 toà nhà nguy nga 5 tầng phục vụ đủ loại dịch vụ ăn uống giải khát mà khách khỏi phải mất công ra ngoài quán. (Mà bạn còn có thể dùng dịch vụ rửa xe nữa cơ đấy, trong khi đang nhàn tản cùng chúng bạn. Nếu thích VIEW, mời bạn lên tầng bốn, thích riêng tư thì ngồi tầng lửng. Tuy nhiên, theo cá nhân tôi, thì không khí đông đúc, TV ồn ào những bài hát nhạc trẻ sôi động, kinh doanh đồ uống kèm theo đồ ăn hay fastfood sẽ làm giảm hương vị tách cà fê của bạn đi rất nhiều. Và thường là khi kinh doanh quá nhiều thứ như thế, dù muốn hay không, chất lượng cafê sẽ bị ảnh hưởng, bên cạnh vô vàn thứ đồ uống không qúa cầu kỳ trong pha chế. Dù rằng vậy, trong nhịp sống khẩn trương như hiện nay, không thể phủ nhận rằng việc gộp nhiều mặt hàng kinh doanh tại một nơi quả thực đem lại sự tiện lợi không nhỏ cho các Thượng đế quỹ thời gian vốn đã eo hẹp.
Những khi có chút thời gian thư giãn, tôi thường đến quán cafê Mai ở Lê Văn Hưu. Vì là gần nhà, và cũng do thói quen. Không quá đông đúc, không ồn ào, cho dù không nằm trong thành cổ, không còn bàn ghế giản dị sơ sài như xưa, nhưng tách cafê đậm đà cũng nhắc tôi nhớ đến cảm giác và không khí đầm ấm nơi phố cổ, nơi tôi đã từng sống với những kỷ niệm êm đềm.
Bạn thân mến, nếu muốn tìm giây phút thư thái, và e phải có chút "duyên nợ" với cafê (vì nhiều bạn không hợp với loại đồ uống này), bạn có thể hoà mình vào gia đình nho nhỏ ấy ( mà lắm khi cũng chẳng nhỏ bé gì cho cam, nhất là vào buổi sáng : tràn ra tận vỉa hè, vai chen vai, lưng đụng lưng, khuỷu huých khuỷu..) nhâm nhi tách cà fê đen đặc sánh đậm chất Hà Nội, trong không khí trầm, ấm cúng, nghi ngút khói cafê quyện vị dìu dịu ngọt, nhân nhẩn đắng, ngầy ngậy chút bơ... thơm và quyến rũ đến lạ lùng!
Ôi nếu phải xa HN, ngoài nỗi nhớ người thân, hẳn tôi cũng sẽ nhớ da diết hương hoa sữa nồng nàn đặc trưng, nhớ dáng vẻ trầm mặc thư thái của phố phường Hà Nội..., và trong nỗi nhớ ấy tôi sẽ thèm lắm một tách cafê đen, thèm được hoà mình trong sự đùm bọc của cái gia đình nho nhỏ,lạ , mà lại thân thương ấy!

(theo gochanoi)

TOP

Hồi xưa lala ở gần HN ko lala
sao lizz thấy lala iu HN quá
chắc lala đi HN chơi hoài hả
có chị kia lizz quen góc cũng ở HN mà sống trong Nam
chị năm nào cũng ra HN chơi hết đó.

TOP

Hehe,quê LL cũng khá gần HN,khoảng bằng từ VT lên SG vậy ấy.
LL chỉ viết phần đề tựa thôi,còn lại là sưu tầm cả đó.Lizz đừng có mà nghĩ LL viết hết nha.Ngày xưa LL đã từng rất yêu HN,mong muốn được sống và làm việc ở HN.Nhưng hè rồi về quê,ghé HN chơi mà thấy nó thay đổi quá.Tuy vẫn trong lành ,dịu dàng nhưng là so với SG thôi.LL giờ iu SG lắm.Nhưng cũng quyết tâm học xong ra HN làm việc vài năm cho nó thoải mái.Trong này cạnh tranh,bon chen ghê quá:mèo12

TOP

@lala
chưa được đi HN
nhưng lizz thấy trong TV chiếu HN rất đẹp
y chang bài này nè
rất có vẽ VN
chứ SG giờ từ từ theo vẽ châu âu rồi
HN thì khác, ở HN còn rất nhiều di tích của VN
các kiểu nhà,hay không khí ngày tết ở HN cũng rất là VN. nói chung là rất đẹp,hehe

TOP

Uh,LL đang tìm hình HN up lên nè.Còn phố cổ HN nữa.Bảo đảm Lizz sẽ cảm nhận được 1 HN rất hay:mèo12
Khi nào về VN 2 chị em ta cùng đi HN chơi,khi mùa cuối thu chớm đông ấy,tuyệt lắm:mèo35

TOP

hehe nhất định về VN lizz phải ra HN chơi
toàn xem trên TV mà thấy ham
lizz thích toàn cảnh xưa, cổ, quê, hay thiên nhiên thôi
nên có thể nói là hợp với HN hehe
còn SG chỉ toàn nhà cao tầng lizz ko thích,hhehe

TOP

Hehe,post vài tấm hình của HN cho pà con ngắm đây:mèo12
                                   Phố Hà Nội
Góc Hà Nội - Traveling - ,
Góc Hà Nội - Traveling - ,
Góc Hà Nội - Traveling - ,
Bức này nhìn cổ kính quá ah,tặng Lizz đó ^^

Góc Hà Nội - Traveling - ,
Góc Hà Nội - Traveling - ,