Chào mừng bạn đến với KST !
Bạn chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy bạn chỉ có thể xem các bài viết mà không thể gửi bài trả lời, đặt câu hỏi hoặc tham gia nhiều hoạt động khác trên diễn đàn.
Hãy đăng ký thành viên tại đây, hoàn toàn nhanh chóng, đơn giản và miễn phí.
Chúc bạn một ngày làm việc thành công và tìm được nhiều thông tin bổ ích tại KST!
In chủ đề Gửi bài trả lời mới

Tình Sử Mạnh Lệ Quân - Mộng Bình Sơn

Chương 21

Ngoài kim điện, Thành Tôn hòa giải,
Trong nội cung, Hoàng hậu khuyên em



Cảnh Phu nhơn bước tới đỡ Tô Yến Tuyết dậy và bảo:
- Con gái ta đã gả đi lấy chồng phương xa, con dâu ta cũng theo chồng bên Giang Nam, hiện nay chỉ còn hai vợ chồng già hiu quạnh, nay gặp con đây, đã cho ta một nguồn vui vô tận. Vậy con gái ta tên Đơn Hoa, nay ta đặt cho con tên Tố Hoa nhé!
Tô Yến Tuyết vui lòng mang tên Tố Hoa và bắt đầu từ nay cái tên Tô Yến Tuyết của nàng trở nên xa lạ.
Sau đó, bọn nữ tỳ dâng lên cho Cảnh Phu nhơn một chén sâm trà. Cảnh Phu nhơn trao cho Tố Hoa và bảo:
- Con phải trầm mình xuống nước chắc lạnh lẽo lắm, vậy con hãy dùng chén sâm trà này cho ấm.
Tố Hoa từ chối:
- Thân mẫu đã già cần phải bổ dưỡng, chớ con còn trẻ tuổi, cần chi phải dùng đến sâm trà.
Cảnh Phu nhơn cười bảo:
- Thứ sâm trà này con ít uống, chớ mẹ thường dùng, con không nên chối từ. Đã là mẹ con thì bảo gì cũng phải nghe theo mới ngoan chớ!
Tố Hoa nghe nói, liền bưng chén sâm uống. Sau đó Cảnh Phu nhơn lấy ra nhiều gấm lụa, châu ngọc cho Tố Hoa, bảo nàng trang sức và lấy tiền thưởng cho các thủy thủ cùng mấy con nữ tỳ. Mọi người được thưởng, mừng rỡ tạ ơn rối rít.
Khi Tố Hoa trang sức xong, Cảnh Phu nhơn trông thấy nàng đẹp như tiên, bà nói:
- Con trang sức lại càng giống tiện nữ ta như đúc, quả là một vị “thiên kim tiểu thơ”.
Dứt lời, bà truyền các nữ tỳ vào lạy mừng Tố Hoa và bảo chúng bắt đầu từ nay phải gọi nàng bằng đệ nhị tiểu thơ.
Bọn nữ tỳ vâng lệnh vào lạy mừng Tố Hoa. Tư cách của Tố Hoa khác hơn người khác ở chỗ biết kính nhường thảo thuận người trên, lại nhân từ khoan dung kẻ dưới, nên Cảnh Phu nhơn càng thêm yêu dấu bội phần.
Khi thuyền đến kinh, Cảnh Phu nhơn kề tai nói nhỏ với Tố Hoa một hồi rồi bảo:
- Đến nơi con cứ việc làm như lời ta dặn, thử xem thân phụ con có biết hay không?
Tố Hoa cúi đầu vâng dạ rồi hai mẹ con cùng lên kiệu thẳng đến dinh Thừa tướng.
Quan hữu Thừa tướng vừa trông thấy Cảnh Phu nhơn đến mừng lắm, vội ra rước vào nhà, lúc ấy kiệu Tố Hoa còn đi sau, hai bên kiệu có nữ tỳ theo hầu. Lương Giám lấy làm ngạc nhiên hỏi Cảnh Phu nhơn:
- Còn ai đi sau nữa kia vậy?
Cảnh Phu nhơn làm thinh không đáp, bà gọi bọn nữ tỳ bảo:
- Sao chúng bay không mời tiểu thơ xuống kiệu đi?
Các nữ tỳ liền vén màn lên, Tố Hoa ở trên kiệu bước xuống, Lương Giám ngỡ là con gái mình nên tỏ ý không bằng lòng, noi:
- Sao phu nhơn lại đèo bồng lắm vậy? Người ta cưới dâu cốt để phụng dưỡng cha mẹ chồng mà phu nhơn lại đem theo như vậy, chắc người ta phiền hà không ít!
Cảnh Phu nhơn nghe nói mỉm cười:
- Phu quân hãy nhìn kỹ lại xem có phải tiểu thơ nhà ta đó không?
Lương Giám nhìn kỹ lại thì lạ thay, nàng này diện mạo giống hệt Đơn Hoa, chỉ khác là tuổi còn trẻ hơn. Lương Giám không hiểu vì cớ gì, lòng đầy nghi hoặc, vội hỏi Cảnh Phu nhơn:
- Nàng này thoạt trông không khác tiểu thơ nhà ta, nhưng cớ sao lại nhỏ tuổi hơn là nghĩa gì?
Cảnh Phu nhơn cười nói:
- Tiểu thơ ta hiện nay đang ở nhà chồng, tôi có đem theo làm chi. Người này là con riêng của tôi, không can hệ gì đến phu quân hết!
Lương Giám nghe nói lại càng ngạc nhiên hơn nữa, thầm nghĩ:

TOP

Chương 22

Mạnh Lệ Quân sửa đổi tánh danh.
Khương Nhược Sơn không con cưới thiếp.



Nhắc qua Mạnh Lệ Quân cùng con Vinh Lang trốn đi, mãi đến trời rựng sáng thì đã đi xa độ năm mươi dặm đường. Đêm hôm ấy vào ngủ nhờ trong một cái quán kia. Mạnh Lệ Quân nói nhỏ với Vinh Lang:
- Nếu ai có tọc mạch muốn hỏi dò lai lịch, mi cứ bảo rằng ta là một tên học trò ở huyện Côn Minh tên Lệ Quân Ngọc, tự là Minh Đường, hôm nay tính đến kinh đặng lập công danh, còn cái tên Vinh Lang của mi cũng giống đàn bà, hơn nữa mi cũng có sắc đẹp, người ta có thể nghi ngờ, nên ta muốn đổi tên mi là Vinh Phát. Vậy nên nhớ để khi ta cần gọi mà biết đối đáp chứ đừng bỡ ngỡ, nguy lắm đấy!
Từ đó, hai thầy trò đi đường cứ thay đổi nhau, khi thì người này ngồi kiệu, người kia cỡi ngựa, rồi đi một lúc thì đổi lại. Lệ Minh Đường thấy Vinh Phát yếu đuối nên việc chi cũng ra sức đỡ đần cho cả.
Đi mãi đến trung tuần tháng tư thì hai thầy trò đã đến hạt Quí Châu, Vinh Phát quá mệt nhọc nên sanh bịnh. Lệ Minh Đường phải đình bộ mướn nhà tạm trú để săn sóc cho Vinh Phát.
Sau khi đã yên trí chỗ ở, Lệ Minh Đường xem mạch bốc thuốc cho Vinh Phát, nhưng uống vào vẫn không thấy thuyên giảm chút nào. Tuy Lệ Minh Đường có xem sách thuốc biết được dược tánh, nhưng chưa từng làm thuốc, nên chữa ba bốn ngày lại xoay qua chứng hàn nhiệt.
Bịnh tình kéo dài đến ngày hai mươi tháng tư vẫn chưa thuyên giảm, lại gặp tiết mưa dầm. Lệ Minh Đường lấy làm lo lắng bèn nói:
- Hôm nay là ngày hai mươi tháng tư rồi, chẳng biết từ đây đến Bắc Kinh còn bao xa nữa? Ta chỉ sợ vào đến kinh không kịp kỳ khảo thí đó thôi. Nếu rủi ro như vậy phải đợi đến ba năm nữa mới đến khoa sau thì muộn mất.
Vinh Phát cựa mình đáp:
- Thầy đã có chí như vậy, thế nào trời kia cũng giúp đỡ lo gì mà không lập được công danh?
Lúc ấy trong phòng đèn đuốc sáng rực, nhưng Vinh Phát nằm thiêm thiếp một hồi rồi ngủ, chỉ còn một mình Lệ Minh Đường ngồi trơ trơ, trong lòng ngổn ngang trăm mối. Bỗng trời ùn ùn mưa như nước đổ, rồi rỉ rả dầm dề lại càng gieo trong lòng Lệ Minh Đường một mối buồn man mác. Qua đến canh một, trong lúc đêm khuya canh vắng, Lệ Minh Đường xúc cảnh ngâm lên mấy vần thơ:
“Lương thê tộc tiệm chánh huỳnh hôn,
“Khổ võ biên kinh miễn khách hồn,
“Thích đắc canh thâm vô nhứt sự
“Phương tri cụ vị tả bi lương.
Ngâm xong, trong lòng Lệ Minh Đường lại càng buồn bã hơn nữa. Để cho đỡ buồn, nàng mở gói lấy ra một quyển sách ngồi dựa bàn xem. Trong lúc xem sách, gặp những chỗ văn chương tuyệt bút, Lệ Minh Đường lại cao hứng ngâm lớn lên, quên cả việc đề phòng. Tiếng ngâm của nàng như tiếng chuông ngân lảnh lót khiến phòng kế bên có một vị phú thương giựt mình thức giấc.
Xin giới thiệu qua vị phú thương này là người ở huyện Hàm Ninh, phủ Võ Xương, thuộc tỉnh Hồ Quảng, tên Khương Nhược Sơn tự là Tín Nhơn, có vợ tên Tôn thị. Hai vợ chồng lão ta ăn ở với nhau rất tương đắc nhưng vẫn chưa có con trai, chỉ sanh vỏn vẹn một đứa con gái tên Thăng Kim, hình dung dũng mặn mà.
Khương Nhược Sơn tin rằng số mạng mình không có con trai nên không chịu cưới vợ bé. Lão thường nghĩ thầm:
“Hiện nay con gái ta tuổi đã đến tuần cập kề, vậy ta cần phải kén một chàng rể có tài cao học rộng may ra ngày sau hắn có nổi danh khoa bảng, ta cũng được dự đôi chút vinh hoa”.
Nghĩ đoạn, Khương Nhược Sơn đi nói với những người chuyên nghề mai mối, tỏ ý mình muốn tìm một người rể học trò.
Thuở ấy, có một học trò ở trong huyện tên Hoạt Toàn tuổi độ đôi mươi, song thân còn song toàn, gia tư cũng được mười muôn, vốn một nhà đại nông nghiệp. Hoạt Toàn là con trưởng nam, còn bốn đứa em thì còn nhỏ. Năm Hoạt Toàn mười bốn tuổi đi thi khảo may nhờ trúng nhằm bài cũ nên đậu được đệ nhị danh tú tài, vì thế nên ai ai cũng gọi danh anh ta là “thần đồng”.
Bọn mai mối giới thiệu cho Khương Nhược Sơn. Khương Nhược Sơn gả con cho y ngay. Hoạt Toàn thấy Khương Nhược Sơn chỉ có một người con gái nên bàn tính với song thân:
- Nhạc phụ con không có con trai nên bây giờ con phải gây tình luyến ái, nghĩa là con qua bên ấy hầu hạ, thế nào nhạc phụ cũng vui lòng, sau này cái gia tài kếch sù ấy cũng về tay con.
Cha mẹ Hoạt Toàn thuận theo lời đề nghị của con, nên cho sang đó ở. Hoạt Toàn liền qua nói với Khương Nhược Sơn:
- Song thân con hãy còn tráng kiện, lại có bốn đứa em con hầu hạ, còn nhạc phụ và nhạc mẫu bên này không có con trai vô cùng hiu quạnh, vậy nay vợ chồng con định sang bên này để hầu hạ cho tròn hiếu đạo.
Tôn thị nghe nói lấy làm mừng rỡ, nhưng Khương Nhược Sơn thừa hiểu âm mưu của chàng rể, lão thầm nghĩ:
“Ta không có con trai, tất nhiên sản nghiệp này sẽ về tay vợ chồng nó rồi, vả lại cha mẹ nó năm nay đã trên sáu mươi tuổi mà nó lại bảo là còn tráng kiện. Còn vợ chồng ta ngày nay mới trên bốn mươi tuổi đầu, có tôi tớ hầu hạ đầy đủ mà nói lại bảo như vậy, tất nhiên nó đã tham sản nghiệp nên nỡ bỏ cha mẹ, quả là đứa bất lương. Nhưng nếu ta nói trắng ra cũng kỳ lắm, hơn nữa vợ ta không phải là người hiểu rộng nhìn xa, nếu ta không thuận thì chắc nó trách ta là kẻ vô tình và hai vợ chồng Hoạt Toàn sẽ cùng oán hờn ta nữa. Chi bằng ta cứ giả vờ vui vẻ cho chúng hưởng chút mảy may để vợ chồng chúng thất vọng chơi”.
Nghĩ đoạn, Khương Nhược Sơn nói với Hoạt Toàn:
- Hai vợ chồng con có hiếu hạnh như vậy thì còn gì quí hóa cho bằng!
Hoạt Toàn ngỡ là Khương Nhược Sơn trúng kế mình nên mừng lắm, bèn lập tức về nhà dọn đồ đặc sang ở bên này, ngày đêm hết sức nịnh bợ. Tôn thị thấy vậy trong lòng rất vui đẹp, trái lại Khương Nhược Sơn thì lấy làm gai mắt, lão nhất thiết không cho Hoạt Toàn tham dự việc nhà, thậm trí đến những sản nghiệp trong nhà lão cũng đem phân cắt cho kẻ ăn người ở trong nhà coi giữ, ngay đến Tôn thị cũng không được nhúng tay vào. Vợ chồng Hoạt Toàn muốn dùng việc gì cần tiền phải thương lượng với người quản gia để nhận từng đồng tiền rất phiền phức.
Rồi đến kỳ thi năm ấy, Hoạt Toàn biết mình tài văn còn dốt chỉ sợ mình mất cả chức tú tài nên xin vợ chồng Khương Nhược Sơn một số tiền để mua chức cửu phẩm hàm đặng khỏi phải thế khảo.
Vợ chồng Khương Nhược Sơn cũng sợ Hoạt Toàn bị cách chức nên cũng chi ra mấy trăm đồng để mua chức cửu phẩm cho chàng. Nhưng số tiền xuất nhập hằng ngày không khi nào cho y quản thủ.
Hoạt Toàn lấy làm bực mình, liền theo năn nỉ với Tôn thị. Tôn thị cũng thương tình tỏ cùng Khương Nhược Sơn:
- Tôi xem tâm tánh Hoạt Toàn cũng là kẻ thật tâm và tiết kiệm, sao phu quân lại không cho nó quản thủ sản nghiệp trong nhà để cho mình được an nhàn hơn sao?
Khương Nhược Sơn nói:
- Việc nhà ta đã có người coi giữ bố trí đâu đó đường hoàng, nếu hiền tế muốn tiêu dùng việc chi cứ việc hỏi quản gia chi ra có phải tiện hơn không? Vả lại, ngày nay hiền tế còn phải lo ôn nhuần kinh sử, nếu ta phó thác việc nàh còn thì giờ đâu mà học hành? Làm như vậy tức là thương rể mà hại rể đó.
Tôn thị nghe nói có lý nên không nhắc đến việc ấy nữa, khiến Hoạt Toàn căm hận vô cùng. Khương Nhược Sơn lại nghĩ thầm:
“Chỉ vì ta không có con trai nên chúng mới tính mưu này kế nọ. Vả lại, năm nay tuy ta đã gần năm mươi song nhờ nhiều thuốc thang bổ dưỡng, cơ thể ta cũng không đến nỗi suy kém, nếu ta có vợ nhỏ tuổi, thế nào cũng còn sanh con được”.
Nghĩ đoạn, Khương Nhược Sơn đi nói với mấy người mai mối:
- Các ngươi hãy làm ơn đi tìm xem có con gái ai tài mạo song toàn dù tốn bao nhiêu ta cũng cưới về làm thiếp, các ngươi hãy gia tâm, ta trọng thưởng.
Lúc bấy giờ các nhà nghèo có ý tham tiền, nghĩ rằng: Nếu con gái mình về đó mà sanh được quí tử thì cái gia tài kếch sù của Khương Nhược Sơn, con gái mình sẽ được trọn hưởng. Vì thế họ tranh nhau kêu gả rất nhiều.
Khương Nhược Sơn tuyển chọn được một cô gái là Nhu nương, con của nhà hàn sĩ tên Hồng Nhiệm. Nhu nương mới mười bảy tuổi, nhan sắc xinh đẹp.
Nàng về ở với Khương Nhược Sơn, hết lòng chiều chuộng Tôn thị nên giữ được hòa khí trong gia đình.
Nhu nương chỉ sống chung cùng Khương Nhược Sơn trong vòng một tháng đã có thai, Nhược Sơn mừng rỡ vô cùng. Qua đến tháng giêng năm sau Nhu nương sanh đặng một đứa con trai vạm vỡ, Khương Nhược Sơn mừng khấp khởi, đặt tên con là Nguyên Lãng và giao cho một bà nhũ mẫu trông nom.
Hoạt Toàn thấy vậy càng thêm oán hận, đứa bé Nguyên Lãng là cái chướng ngại vật của Hoạt Toàn. Khương Nhược Sơn thừa hiểu tư tưởng của chàng rể của mình, nhưng giả vờ không để ý đến.
Qua năm su, Khương Nhược Sơn lại nghĩ:
“Tuy ta đã sanh được một đứa con trai, nhưng ta vẫn còn giận thằng rể bất lương ấy. Bây giờ ta phải cưới thêm một người hầu thiếp nữa, may ra sanh thêm con trai nữa để xem nó tức mình đến bực nào cho biết.”
Nghĩ rồi, Khương Nhược Sơn xuất ba trăm lượng bạc cưới một cô gái nhà nghèo nữa. Cô này tên Đức Thơ con của Trương Đại Hợp, nàng mới mười sáu tuổi, nhan sắc mặn mà. Tuy Tôn thị không bằng lòng nhưng không dám cãi.
Đến năm Khương Nhược Sơn được năm mươi bốn tuổi, ông nghĩ thầm:
“Nay tuổi ta đã già mà con muộn màng, không thể nào nuôi được Nguyên Lãng cho đến tuổi trưởng thàng. Khi ta nhắm mắt thế nào vợ lớn ta là Tôn thị cũng đem sản nghiệp chia cho thằng rể bất lương ấy thì linh hồn ta dưới suối vàng không yên dạ, và tin chắc rằng trong lúc chia của làm gì con trai ta cũng phải chịu thiệt thòi. Chi bằng bây giờ ta còn tráng kiện, ta sẽ xuất tiền ra đi buôn may ra kiếm thêm vài mươi muôn, chừng ấy ta sẽ nghĩ kế chia gia tài cho vừa ý ta”.
Nghĩ rồi, Khương Nhược Sơn tuyển chọn bốn tên gia nhơn toàn là những tên thạo nghề buôn bán, phân công cho chúng đi các tỉnh tìm những đồ châu báu tốn đến bảy tám trăm muôn bạc.
Hôm ấy lúc trời mưa tầm tã, Khương Nhược Sơn phải tìm quán nghỉ ngơi, chẳng dè gặp nhằm chỗ với Lệ Minh Đường.
Lúc ấy tuy trời mưa, song hơi đất bốc lên khiến khí hậu nóng bức, Khương Nhược Sơn chỉ nằm mơ màng không ngủ được, đến khi nghe tiếng đọc sách rang rảng ở phòng kê bên thì giật mình ngồi nhổm dậy bước đến khe cửa nhìn xem.
Khương Nhược Sơn thoáng thấy Lệ Minh Đường tóc đen nhánh như đàn bà (vì lúc ấy nực nội nên Lệ Minh Đường lột khăn vấn đầu) lại thêm khuôn mặt đầy đặn, nước da trắng phau, đôi mắt sáng như sao, hai cổ tay nõn nà tròn vo trông như ngọc ngà dễ thương đáo để.
Khương Nhược Sơn nghĩ thầm:
“Với tướng mạo của chàng thiếu niên này thế nào ngày sau cũng được đại phú đại quí. Mắt ta đã từng xem đồ châu báu không khi nào lầm lẫn thì đối với tướng kẻ sang, kẻ hèn, dám tự tất thông khi nào sai lệch. Thôi để ta vào thăm chàng và nếu chàng có lòng tốt, ta tìm cách làm nghĩ phụ của chàng, để sau này chàng có được ra làm quan thì ta cũng được hưởng chút ít thơm lây, nở mặt nở mày với thiên hạ”.
Khương Nhược Sơn nghĩ vậy nên đứng chờ cho Lệ Minh Đường đọc xong đoạn sách ấy mới đưa ta gõ nhẹ vào cánh cửa. Lệ Minh Đường nghe gõ cửa, giật mình run sợ vội lấy khăn vấn đầu rồi đứng dậy lên tiếng hỏi:
- Ai gõ cửa đó?
Khương Nhược Sơn ôn tồn đáp:
- Tôi là người khách ngụ phòng kế bên đây, vì nghe người ham đọc sách nên muốn sang hầu chuyện.
Lệ Minh Đường mở cửa tiếp vào mời ngồi và nói:
- Vì đây là nơi lữ thứ nên hoàn cảnh không thuận tiện. Xin lão trượng miễn chấp cho.
Khương Nhược Sơn đáp:
- Ngươi có lòng tử tế như vậy, lão phu lấy làm cảm tạ.
Lệ Minh Đường hỏi:
- Thưa lão trượng, chẳng hay lão trượng quê quán ở đâu, quí danh là chi và buôn bán vật gì, xin lão trượng vui lòng cho tôi biết.
Khương Nhược Sơn đáp:
- Tôi họ Khương, tên Nhược Sơn, tự là Tín Nhơn, quê ở huyện Hàm Ninh, phủ Võ Xương, tỉnh Hồ Quảng, nhân đi mua các đồ châu báu nay sắp trở về quê nhà, đi ngang qua đây gặp mưa nên vào đây mướn phòng trú ngụ. Còn công tử tánh danh là chi, chẳng hay đến đây có việc gì?
Lệ Minh Đườn đáp:
Tôi họ Lệ, Tên Quân Ngọc, tự là Minh Đường quê ở huyện Côn Minh tỉnh Vân Nam. Năm nay tôi lên mười sáu, định vào thi kinh, nhưng vì đến đây rủi đứa thơ đồng mang bịnh, phải đi trễ hỏng mất kỳ thi, vậy nên buồn bã lấy sách ra đọc làm kinh động đến lão trượng, xin lão trượng sẵn lòng tha thứ.
Khương Nhược Sơn nói:
- Ngươi là bậc thiếu niên danh sĩ có chí như vậy thật đáng kính, vả con đường từ đây ra Bắc Kinh giặc cướp rất nhiều mà hai thầy trò còn son trẻ quá, lão phu lo ngại vô cùng.
Lệ Minh Đường nghe nói, thở dài than:
- Mấy lời dạy của lão trượng, vãn sanh cảm thấy là lời vàng ngọc, nhưng vãn sanh đã vì chút công danh thì dẫu có nguy hiểm đến đâu cũng phải cố gắng mà vượt qua.
Khương Nhược Sơn thương hại nói:
- Vẫn biết vậy, nhưng phảm làm việc gì cũng phải suy hơn tính thiệt chớ không nên đánh liều nguy hiểm. Chẳng giấu gì, lão phu đây nhờ buôn bán phương xa nên ở Bắc Kinh cũng có ít người quen biết, nếu người muốn quyên giám để xin ứng thí thì tôi vui lòng giúp cho, thế nào khi người đến nơi cũng được vào thi ngay. Và bây giờ tôi có một ý kiến này nữa, nếu người nghe lời tôi thì còn gì hay cho bằng.
Lệ Minh Đường hỏi:
- Việc gì, xin lão trượng cứ nói thẳng ra, nếu việc đáng làm thì không bao giờ tôi từ chối.
Khương Nhược Sơn liền thuật hết nỗi gia đạo của mình cho Lệ Minh Đường nghe và nói:
- Thiên hạ thấy tôi giàu có nên thường gọi tôi là Khương Bá Vạn, nhưng kỳ thực thì sản nghiệp của tôi độ năm muôn là cùng, nay tôi thấy người tài mạo khác thường, chắc chắn là một tay khoa bảng nên lòng muốn kết giao làm bạn, nhưng so tuổi tác, một già một trẻ kết bạn rất khó coi. Vậy nếu ngươi không muốn phụ lòng mến phục của tôi mà nhận tôi làm nghĩa phụ thì tôi cũng không dam mong người phải thay tên đổi họ, tôi chỉ mong sau này được hưởng nhờ chút ân vinh của người cho thỏa chí mà thôi.

TOP

Chương 23

Vì mến tài, Khương Nhược Sơn nhận nghĩa tử.
Quyết lập thân, Lệ Quân Ngọc trổ tài năng.



Ngừng một lát, Khương Nhược Sơn tiếp:
- Nếu người không phụ lòng tôi thì xin người hãy theo tôi về nhà để tôi lo liệu tiền quyên giám cho, chẳng hay người nghĩ thế nào?
Lệ Minh Đường suy nghĩ hồi lâu rồi nói:
- Lão trượng đã có lòng đoái tưởng đến tôi, tôi đội ơn vô cùng, nhưng tôi xin tỏ trước một lời là xin lão trượng hiểu cho rằng, dầu sao nhà tôi cũng có chút ít sản nghiệp nên không hề có lòng tham đến sản nghiệp của lão trượng đâu, và xin thề rằng nếu tôi được may phước làm con của lão trượng thì không khi nào chịu lạm thực đến tài sản của lão trượng. Tôi chỉ cầu sao cho tôi được thành danh để lão trượng được phần vinh dự là tôi mãn nguyện lắm rồi!
Khương Nhược Sơn nói:
- Tuy người đã quyết lập chí như thế, đó là thái độ của kẻ anh hùng, nhưng dầu sao lão phu cũng phải định liệu cho phải lẽ chớ!
Khương Nhược Sơn vừa nói dứt, Lệ Minh Đường vội cúi lạy nhận làm nghĩa phụ. Lão Nhược Sơn lấy làm đẹp ý vội đưa tay đỡ Lệ Minh Đường dậy và vui vẻ nói:
- Được như vầy thật lão phu không gì toại nguyện cho bằng, nhưng lão phu chỉ sợ mình bạc phước không được hưởng thọ lâu dài để nhận lấy vinh dự về sau.
Lệ Minh Đường nói:
- Con đang hy vọng vào phúc ấm của nghĩa phụ để bước lên thang danh vọng một cách xuôi chảy, nếu ngày nào con thành danh thì nghĩa phụ cũng được phong tặng, xin nghĩa phụ chớ nên thốt lời bi quan ấy, con buồn lắm.
Khương Nhược Sơn nói:
- Thôi, bây giờ con hãy nghỉ ngơi rồi sáng ngày sẽ qua phòng ta ăn uống và cùng nhau khởi hành.
Nói rồi, Khương Nhược Sơn trở về phòng mình an nghỉ. Qua đến đầu canh năm, Khương Nhược Sơn thức dậy kêu chủ quán dọn rượu thịt lên, đoạn sai người qua mời Lệ Minh Đường.
Lúc ấy, Lệ Minh Đường cũng đã dậy, đang lo sắp đặt hành lý, kế có gia nhơn của Nhược Sơn qua nói:
- Ông tôi dạy sang mời ngài qua dùng rượu.
Lệ Minh Đường vội kêu Vinh Phát dậy coi phòng, rồi nối gót tên gia nhơn sang ăn uống cùng Khương Nhược Sơn.
Trước khi ngồi vào bàn, Khương Nhược Sơn không quên sai người đem bánh qua cho Vinh Phát, và truyền chuẩn bị mướn xe cộ cho sẵn sàng.
Cơm nước xong thì xe vừa đến, Lệ Minh Đường hối Vinh Phát đem hành lý lên rồi cùng Khương Nhược Sơn ngồi chung một xe, đoạn sửa một chiếc xe êm ái cho Vinh Phát nằm.
Cuộc hành trình này chỉ trong vòng hai ngày đã đến Võ Xương, lúc ấy bịnh tình của Vinh Phát đã thuyên giảm nhiều. Đến nơi, người nhà của Khương Nhược Sơn mừng rỡ chạy ra tiếp rước, Hoạt Toàn cũng giả vờ ân cần chạy ra niềm nở thưa:
- Tiện tế chẳng hay nhạc phụ về nên ra tiếp đón trễ nãi, mong nhạc phụ tha thứ cho.
Khương Nhược Sơn đưa tay chỉ Hoạt Toàn, giới thiệu cùng Lệ Minh Đường:
- Đây là anh rể của con đó, con hãy chào anh rể của con đi.
Lệ Minh Đường nghe bảo vội cúi đầu chào Hoạt Toàn. Hoạt Toàn ra vẻ ngạc nhiên, Khương Nhược Sơn liền thuật lại cho Hoạt Toàn biết Lệ Minh Đường là nghĩa tử của mình.
Hoạt Toàn nghe xong lấy làm bất bình, chàng nghĩ thầm:
“Năm ngoái sanh một đứa con trai, phần gia tài này ta đã thiệt mất phân nửa, nay lại đèo bòng thêm con nuôi nữa, chẳng biết rồi đây cái tài sản này sẽ chia ra làm mấy mươi phần!”
Hoạt Toàn tuy nghĩ vậy, song cũng gượng chào Lệ Minh Đường và mời vào nhà. Khương thị là người em gái của Khương Nhược Sơn, năm ấy độ ba mươi tuổi, trông thấy Lệ Minh Đường đi với Nhược Sơn thì lấy làm lạ, cả hai đều ngỡ ngàng không biết hỏi bằng gì.
Khương Nhược Sơn bèn thuật rõ lai lịch cho vợ con và em gái nghe, đồng thời bảo Lệ Minh Đường gọi Tôn thị bằng nghĩa mẫu và chào Khương thị bằng nghĩ Cô mẫu.
Tôn thị thấy thế lấy làm khó chịu, song làm thinh không dám nói. Khương Nhược Sơn lại bảo Lệ Minh Đường chào Thăng Kim và gọi bằng chị. Thăng Kim cũng cúi đầu chào đáp lễ rồi lui vào nhà trong.
Còn hai người tiểu thiếp của Khương Nhược Sơn là Nhu Nương và Đức Thơ đứng ở sau bức rèm liếc thấy Lệ Minh Đường diện mạo khôi ngô, cả hai như bị thôi miên không cầm lòng được, liền giả vờ vô tình bước ra để nhìn rõ mặt chàng trai tuấn tú ấy, nhưng khi giáp mặt Lệ Minh Đường, lại giả vờ hổ thẹn chạy vào.
Khương Nhược Sơn thấy thế liền kêu lại bảo:
- Lệ Minh Đường đã nhận ta là nghĩa phụ rồi. Xét ra người cùng hai nàng niên kỷ bằng nhau nhưng danh phận của nàng đương nhiên là mẫu. Vậy ta cho phép hai nàng ra tiếp chào, đặng từ đây về sau hai nàng sẽ cư xử với Lệ Minh Đường như tình cốt nhục.
Nhu Nương nghe nói liền bước ra chào Lệ Minh Đường, Đức Thơ cũng bước theo chào hỏi. Lệ Minh Đường liền rước bồng đứa bé và tỏ tình thân mật hỏi:
- Chẳng hay em nó tên là chi vậy?
Nhu Nương đáp:
- Nó tên là Nguyễn Lãng.
Sau đó, Khương Nhược Sơn sai người mang tiền lên Bắc Kinh quyên giám để cho Lệ Minh Đường được vào ứng thí. Trong thư, Nhược Sơn ghi rõ tên tuổi của Lệ Minh Đường, nhưng quê quán thì ghi ở huyện Hàm Ninh, phủ Võ Xương, tỉnh Hồ Quảng.
Hoạt Toàn trông thấy sự việc như vậy, lòng đầy căm tức, liền nói với vợ:
- Ta xem Lệ Minh Đường có vẻ xinh đẹp như con đào hát giả trai vậy, hay là nhạc phụ có ý riêng gì chăng, rồi tránh tiếng dị nghị nên mới nhận làm nghĩa tử?
Nàng Thăng Kim nói:
- Thân phụ tôi không khi nào có hành động như vậy đâu, phu quân chớ nên nghĩ bậy bạ mà mích lòng người.
Hoạt Toàn nói:
- Tôi thấy gần đây nhạc phụ đã biến tánh cho nên cưới đến hai nàng tiểu thiếp, thì biết đâu người lại không có hành động ố lem khác!
Thấy vợ mình không nghe, Hoạt Toàn đi nói với Tôn Thị. Tôn Thị nghe qua lấy làm căm hận nói:
- Được rồi, để ta dò xét kỹ lưỡng nếu quả thật như vậy, ta sẽ đánh cho nó một trận rồi đuổi ra khỏi nhà lập tức.
Từ đó Tôn thị hay cau có đá thúng đụng nia, mắng mèo chưởi chó, khiến Khương Nhược Sơn lấy làm bực mình, nhưng Khương Nhược Sơn cũng thừa hiểu đó là do Hoạt Toàn xúi giục, lão bèn dọn riêng một thơ phòng cho Lệ Minh Đường ở đọc sách.
Phòng riêng này tuy không rộng rãi mấy, song cũng mát mẻ đẹp đẽ, trông có vẻ nên thơ. Ngày nào cũng có người bưng cơm nước đến cho hai thầy trò Lệ Minh Đường ăn.
Vinh Phát nói với Lệ Minh Đường:
- Tuy ông Khương Nhược Sơn có lòng tốt thật, song người vợ ông không được tử tế.
Lệ Minh Đường nói:
- Mi nói đúng đấy, chỉ vì bà ta quê mùa dốt nát nên mới nghe lời Hoạt Toàn xúi giục làm như vậy, nhưng ta vì tình nghĩa phụ nên gác bỏ ngoài tai, không nên chấp trách làm gì. Riêng về Nguyên Lãng kia, ta cần phải biếu cho cậu vật gì để gây tình thân mật và kỷ niệm về sau.
Nói rồi, Lệ Minh Đường mở gói ra lấy một xâu chuỗi hột và một đôi vòng bằng ngọc định đem cho Nguyên Lãng rồi hai thầy trò tắt đèn an giấc.
Sáng hôm sau, Lệ Minh Đường đem ba vậy ấy đến phòng Khương Nhược Sơn. Con nữ tỳ vừa trông thấy vội hỏi:
- Tiên sanh đến đây có việc gì mà sớm thế? Ông bà tôi còn ngủ chưa dậy.
Lệ Minh Đường khoát tay, nói:
- Nếu còn ngủ thì chớ kêu làm gì, để ta về rồi một lát sẽ lại.
Lúc ấy Khương Nhược Sơn ở trong phòng nghe tiếng liền bảo nữ tỳ mời vào. Khương Nhược Sơn nhắc ghế mời ngồi rồi pha trà mời uống. Hai nàng tiểu thiếp Nhu Nương và Đức Thơ vì đã say đắm nhan sắc của Lệ Minh Đường nên vội bế Nguyên Lãng đến gần để chào hỏi.
Lệ Minh Đường tươi cười vui vẻ tiếp bồng Nguyên Lãng để vào lòng, rồi bảo nó:
- Hiền đệ ơi! Ta cho hiền đệ mấy cái này nghe!
Nói rồi lấy dây chuỗi hạt châu cùng dây vàng đeo vào cổ cho Nguyên Lãng, còn đôi ngọc thì đeo vào hai cườm tay. Nguyên Lãng mừng rỡ chạy lại khoe với cha:
- Cha ơi, con có mấy cái này tốt lắm!
Khương Nhược Sơn kéo tay Nguyên Lãng lên xem và nói:
- Ối chao! Trẻ con thì nên cho hắn đeo đồ giả cũng được, sao lại dùng vàng ngọc thiệt như vầy, chẳng là phí lắm sao?
Lệ Minh Đường nói:
- Mấy thứ này là vật cũ của con dùng lúc còn thơ ấu, chứ không phải mới mua đâu.
Khương Nhược Sơn xem kỹ lại, rồi cất tiếng khen:
- Con đã có những đồ dùng quí giá như vầy, tất nhiên một nhà đại phú rồi!
Lệ Minh Đường khiêm nhường nói:
- Tuy nhà con cũng có chút sản nghiệp, song vốn quê mùa nên có vật như vậy mà cũng không lấy chi làm trọng.
Nói rồi nàng cáo từ lui về phòng riêng.
Nhắc qua việc Nhu Nương và Đức Thơ, hai nàng hầu thiếp của Khương Nhược Sơn rất mê đắm sắc chàng trai Lệ Minh Đường. Hai người trở vào phòng cùng nhau khen ngợi. Đức Thơ nói:
- Người sao mà đẹp trai đến thế cơ! Ôi con mắt của chàng nó đẹp một cách tự nhiên, dầu một tay danh họa này có tài đến đâu cũng không thể vẽ cho giống hệt được.
Nhu Nương cũng tắc tưởi nói:
- Chẳng những con mắt đã xinh đẹp mà thôi, màu da của chàng cũng nõn nà như tấm lụa trông đẹp quá, nếu sau này cô ả nào được lấy chàng thì thật là hữu phước. Được người chồng đẹp thế thì dầu trọn đời ăn ở với nhau có nghèo khổ đến đâu cũng thỏa dạ.
Nhu Nương lại tiếp:
- Với cái màu da ấy, chẳng những chị đây lớn tuổi không bằng chàng đã đành, đến nỗi màu da của em cũng phải thua sút chàng nữa là khác.
Đức Thơ nghe vậy biết Nhu Nương đã phải lòng chàng rồi, bèn nói:
- Chị em ta ở chung nhau một nhà, tình nghĩa chẳng khác ruột thịt, vậy em xin tỏ thật cùng chị, theo con mắt của em thì tin chắc Lệ Minh Đường này không thể có một chàng trai nào sánh kịp, thậm trí đến hạng nữ lưu cũng ít người bì nổi.
Nhu Nương nói:
- Chị em ta cũng vì cha mẹ quá tham tiền, đem gả cho lão già này phí mất một đời xuân xanh, phải chi được kết duyên cùng Lệ Minh Đường, dầu chỉ được ấp yêu với chàng trong một ngày rồi chết đi cũng thỏa dạ.
Sau đó, hai người cứ bàn qua tính lại xung quanh vấn đề diện mạo anh chàng Lệ Minh Đường rồi than vắn thở dài, trông rất thảm thiết.
Khi dùng cơm sáng xong, Khương Nhược Sơn ra chơi nơi huê viên, Lệ Minh Đường thoáng thấy liền bước ra mời vào thư phòng rồi thưa:
- Chẳng phải con dám thôi thúc, nhưng xét việc công danh vô cùng hệ trọng, xin nghĩa phụ hãy mau mau sai người đến kinh lo liệu giùm, kẻo để trễ không được vào thì tội cho con lắm.
Khương Nhược Sơn mỉm cười đáp:
- Khi mới về đây ta đã lập tức viết thư sai người đi rồi, chớ đâu để ngày nay mà con phải nhắc.
Lệ Minh Đường đáp:
- Thế sao nghĩa phụ không cho con hay để con trao số tiền quyên giám và tiền lộ phí? Và tên họ con, chẳng hay nghĩa phụ khai như thế nào?
Khương Nhược Sơn đáp:
- Ồ! Ta đã là nghĩa phụ của con thì lẽ nào việc nhỏ mọn như vậy lại không lo liệu, để cho con xuất tiền quyên giám sao? Còn tên họ của con thì lão phu vẫn khai là Lệ Quân Ngọc, nhưng ta để con nhập tịch bên Hồ Quảng này, phỏng có được chăng?
Lệ Quân Ngọc nói:
- Sao nghĩa phụ không khai con là họ Khương, lại cứ để nguyên họ Lệ làm cho cha con mình phân biệt như vậy, sao co phải lẽ?
Khương Nhược Sơn nói:
- Nếu có ý tốt như vậy, ta rất vui lòng, nhưng chúng ta nhận nhau là cha con đã là quá phận lắm rồi, hà tất phải đổi tên họ.
Lệ Minh Đườgn nói:
- Con đội ơn nghĩa phụ rất nhiều, dầu cho có đổi họ cũng chẳng sao.
Câu chuyện của hai người vừa đến đây, tên đầu bếp đã dâng lên hai chén cháo bột củ sâm để ăn cho bổ khỏe. Khương Nhược Sơn vừa ăn vừa hỏi Lệ Minh Đường:
- Con thấy người đầu bép nấu nướng như vầy có dễ ăn không?
Lệ Minh Đường đáp:
- Bác đầu bếp này nấu nướng như vầy ăn ngon lắm, vả con yếu đuối có ăn là bao, xin nghĩa phụ dạy cho giảm bớt đi là hơn.
Khương Nhược Sơn cười nói:
- Ta chỉ sợ đầu bếp nấu nướng không ngon, làm cho nghĩa tủ không ăn được thôi.
Dứt lời, lão quay qua dặn tên đầu bếp:
- Ngươi hãy cố nấu nướng như thế nào để cho hiệp ý nghĩa tử ta thì ta trọng thưởng nhé.
Tên đầu bếp vâng dạ rồi lui ra. Sau đó Khương Nhược Sơn sai người đi kêu thợ may đến mướn may rất nhiều quần áo cho Lệ Minh Đường thay đổi.
Khương Nhược Sơn càng đối đãi tử tế với Lệ Minh Đường, Hoạt Toàn càng căm hận vô cùng, nhưng không biết làm cách nào cho bõ ghét.
Khương Nhược Sơn về đến phòng chưa được bao lâu, đã có gia đinh vào báo:
- Hiện có người em rể của lão gia là Ngô Đạo Am đến.
Khương Nhược Sơn mừng rỡ vội ra tận bên ngoài tiếp rước vào nhà. Ngô Đạo Am hỏi:
- Nghe nói lão huynh đi buôn bán, chẳng hay lão huynh về đây bao giờ vậy? Chỉ vì tiểu đệ thường hay đi vắng mãi nên không thường đến đây thăm lão huynh được.
Khương Nhược Sơn đáp:
- Tôi mới về được mấy hôm nay.

(Nguyên Khương Nhược Sơn có một người em gái gả cho Ngô Đạo Am là một nhà hàn sĩ, cha mẹ người mất sớm, nhưng lại có tài học rộng uyên thâm, thi đỗ tú tài, lại rất giỏi về môn y dược. Ông ta được vợ giới thiệu việc Lệ Minh Đường cho nghe nên nay ông ta mới đến hỏi thăm Khương Nhược Sơn).

TOP

Chương 24

Ngô Đạo Am tinh mắt biết người tài
Lệ Minh Đường văn hay được trúng tuyển.



Ngô Đạo Am hỏi Khương Nhược Sơn:
- Chẳng hay lão huynh đi buôn chuyến này có phát tài không?
Khương Nhược Sơn đáp:
- Buôn bán là nghề chuyên môn của tôi mà! Vì vậy đã đi buôn tất nhiên phải phát tài.
Ngô Đạo Am hỏi:
- Nghe nói lão huynh vừa mới nhận một nghĩa tử mà người ấy là một danh sĩ, chẳng hay tài học của người ấy thế nào?
Khương Nhược Sơn đáp:
- Cứ theo con mắt tinh đời của tôi, tôi đoán chắc nghĩa tử tôi là hạng thông minh xuất chúng, nhưng còn tài học thì thật ra tôi không biết nổi, mong tiên sinh hãy thử xem mới rõ được.
Ngô Đạo Am nói:
- Con mắt của lão huynh châu báu xem không lầm thì đời nào lại không thấy rõ kẻ chân tài?
Khương Nhược Sơn nói:
- Chỉ vì chữ nghĩa tôi quá kém cỏi nên phải cậy tiên sinh thử sức hắn.
Ngô Đạo Am nói:
- Đã là nghĩa tử của lão huynh tức là nghĩa điệt của tôi rồi, để tôi ra đó thăm người một chút mới được.
Nói xong cả hai đều dắt nhau ra huê viên. Lệ Minh Đường vừa thoáng thấy vội chạy ra nghinh tiếp.
Khương Nhược Sơn đưa tay chỉ Lệ Minh Đường giới thiệu cùng Ngô Đạo Am:
- Đây là nghĩa tử của tôi đó.
Nói xong truyền gia nhơn dọn tiệc lên, ba người cùng nhau ngồi uống rượu. Rượu được vài tuần, Ngô Đạo Am hỏi đến việc văn chương sử sách Lệ Minh Đường ứng đáp xuôi như nước chảy, có khi Ngô Đạo Am hỏi chỉ một câu mà Lệ Minh Đường đáp đến mười câu, từ lý sâu sắc, tỏ ra là một bậc kỳ tài, khiến Ngô Đạo Am khủng khiếp không dám hỏi nữa.
Ngô Đạo Am nghĩ thầm:
“Ngày nay mới biết tài học của ta chưa thấm vào đâu, chẳng khác nào cầm sào dò biển, khó mà dò đặng chỗ sâu, chỗ cạn”.
Lệ Minh Đường thấy Ngô Đạo Am tuy ít học nhưng ông ta giỏi về thuốc, nên hỏi qua mạch lý thì ông ta giảng giải rất thông suốt.
Sau đó, ba người uống rượu trò chuyện mãi đến chiều mới ta cuộc. Khi Ngô Đạo Am đi khỏi rồi, Khương Nhược Sơn nói với Lệ Minh Đường:
- Ngô Tiên sanh chính là bậc lão thành có tiếng là một nhà học rộng, nếu trên vấn đề văn chương có chỗ nào con chưa thông suốt hãy hỏi người, người sẽ chỉ cho.
Lệ Minh Đường đáp:
- Về văn chương thì con chẳng dám phiền hỏi người, chỉ xin nghĩa phụ nói với người, nhờ người truyền dạy mạch lý cho thì ân ấy rất sâu.
Khương Nhược Sơn nghe nói cười hỏi:
- Không làm thuốc mà tìm học mạch lý làm gì?
Lệ Minh Đường đáp:
- Nghề làm thuốc có thể cứu được tánh mạng con người, một việc vô cùng quan trọng, nếu cần phải học hỏi, dầu không làm thuốc cũng có thể cần dùng khi nguy biến, hay lắm chớ!
Khương Nhược Sơn nói:
- Tưởng con muốn điều chi, chứ điều ấy rất dễ.
Nói rồi vào nhà để thương nghị với Ngô Đạo Am. Ngô Đạo Am vừa trông thấy Khương Nhược Sơn liền bái và nói:
- Tôi rất khâm phục lão huynh có con mắt tinh đời chọn người nghĩa tử ấy.
Khương Nhược Sơn nghe nói mừng rỡ, hỏi:
- Tiên sanh nói như vậy thì chắc Lệ Minh Đường là một bậc kỳ tài nhưng tiên sanh đoán thử sau này có thể thành danh không?
Ngô Đạo Am nói:
- Căn cứ trên kiến thức về văn chương thì Lệ Minh Đường rất có tài khoa bảng, hơn nữa diện mạo của chàng khôi ngô, đoan chánh quá, thế nào chàng cũng là dòng dõi công hầu chẳng sai, nhưng chẳng biết vì cớ gì chàng lại chịu cùng lão huynh kết làm phụ tử?
Khương Nhược Sơn nghe hỏi liền thuật rõ lại mọi việc từ đầu đến cuối cho Ngô Đạo Am nghe.
Ngô Đạo Am lắc đầu tỏ vẻ không tin, nói:
- Tôi chắc Lệ Minh Đường là quan gia tử đệ chi đây mới có tài mạo như thế, chứ bảo rằng nông gia xuất thân thì thật là khó tin quá.
Khương Nhược Sơn lại nói:
- Tuy Lệ Minh Đường có tài cao học rộng như vậy mà còn muốn yêu cầu tiên sanh dạy cho hắn một chuyện.
Ngô Đạo Am nói:
- Tài học của Lệ Minh Đường chẳng những một mình tôi bái phục mà thôi, có thể thân sĩ khắp tỉnh Hồ Quảng này không ai bì kịp, mà bây giờ còn cần đến tôi dạy là dạy điều chi?
Khương Nhược Sơn nói:
- Tiên sanh chớ nên khen quá lời, vừa rồi hắn cậy tôi nói giùm tiên sanh làm ơn truyền dạy mạch lý cho hắn, chẳng hay tiên sanh nghĩ sao?
Ngô Đạo Am nói:
- Điều ấy không khó chi, phàm những người tinh thông văn tự rồi thì chỉ nói sơ qua là hiểu hết.
Bây giờ nhắc lại việc Nhu Nương và Đức Thơ từ khi trông thấy nhan sắc Lệ Minh Đường, đem lòng luyến ái, thường hay nhìn trộm Lệ Minh Đường, hoặc nhân khi đi ra và cố ý tạo những cuộc gặp gỡ để trò chuyện một đôi câu. Lệ Minh Đường thấy vậy đoán biết hai người đã say đắm cái dung nhan của mình nên mỗi lần gặp gỡ tươi cười vui vẻ làm cho hai nàng càng tương tư hơn nữa.
Bữa nọ Khương Nhược Sơn đi vắng, Vinh Phát cũng ra ngoài phố dạo chơi, hai nàng bồng Nguyên Lãng vào huê viên chơi, trông thấy Lệ Minh Đường đang ngồi đọc sách trong thư phòng. Nhu Nương bèn giả cách đi tránh nơi khác để cho Đức Thơ vào trước rồi mình sẽ vào sau.
Nhu Nương nói:
- Em làm ơn bồng giùm Nguyên Lãng cho chị đi có chút việc cần.
Đức Thơ mừng rỡ vội bồng Nguyên Lãng và nói:
- Thôi, chị hãy đi đi.
Nhu Nương quày quả đi liền. Đức Thơ đứng một mình liếc nhìn vào cửa sổ trông thấy diện mạo Lệ Minh Đường xinh đẹp chẳng khác Phan An tái thế, lửa tình bỗng bốc cháy trong lòng không thể nào dằn được. Đức Thơ đánh bạo bước vào đứng trước mặt Lệ Minh Đường, chúm chím cười và nói:
- Tiết trời oi bức như vầy, sao chàng không nghỉ ngơi đôi chút lại miệt mài vào sách vở mãi như vậy, tôi e hao tổn tinh thần.
Lệ Minh Đường biết ngay nàng có ý trêu ghẹo mình nên cố để thử tình xem nàng hành động gì cho biết, nên vội đứng dậy cười đáp:
- Bước công danh vô cùng quan trọng, nếu không chịu khổ như thế, làm sao có thể báo đáp được ơn sâu của nghĩa phụ? Chỗ này trông vắng vẻ chắc không can gì đâu, vậy xin mời nàng ngồi đây chơi với tôi giây lát.
Đức Thơ nghe nói trong lòng như nở hoa, chẳng khác nắng hạn gặp mưa rào, bèn giả bộ nói với Nguyên Lãng:
- Hãy ngồi đây chơi với anh nhé, ngoan lên cưng.
Nói rồi vén màn bước vào để Nguyên Lãng xuống đất. Nguyên Lãng tánh con trẻ ham chơi nên vừa để xuống, nó liền chạy tung tăng chơi khắp phòng.
Lệ Minh Đường kéo ghế mời Đức Thơ ngồi, Đức Thơ cũng làm ra vẻ hổ thẹn rồi mới ngồi xuống vịn tay lên bàn, mắt liếc đưa tình, miệng cười chúm chím.
Cử chỉ ấy kéo dài một hồi, Đức Thơ mới trỗi giọng oanh vàng, nói:
- Tôi cùng chị Nhu Nương thường trộm khen cái dung nhan mỹ lệ của chàng, chắc chàng đang độ xuân xanh chưa có vợ con gì, lắm lúc cũng cảm thấy buồn chớ? Tôi không hiểu tại sao chủ nhân đây lại không nghĩ đến việc ấy, để cho chàng ngày đêm hiu quạnh thật là tội nghiệp.
Lệ Minh Đường nói:
- Tôi đã quyết chí, chừng nào lập được công danh mới bàn đến việc hôn nhân.
Đức Thơ lắc đầu nói:
- Nói vậy sao được. Tuy công danh là việc quan trọng nhưng khách phong lưu bao giờ cũng là kẻ đa tình, há chàng lại không nhớ chuyện ông lý Tịnh đời Đường cùng Hồng Phất Nữ, đôi bên chỉ dan díu với nhau vì một chữ tình mà sau cả hai đều được thành tiên cả sao? Theo tôi, nếu suy nghĩ cho cùng, không phải là một điều phạm đến phong hóa.
Lệ Minh Đường nghe nói, biết nàng cũng thuộc nhiều tích xưa nên đáp:
- Tư mã Tương Như gặp gỡ Trác Văn Quân cũng như Đường Bá Hổ luyến ái Thu Hương đều là một việc hay, nhưng hổ vì tôi đây phước bạc, làm gì được hưởng những sự kỳ ngộ như thế!
Đức Thơ thấy chàng có hảo ý nên vào đề ngay:
- Thật tình tôi không dám ép uổng chàng, nhưng chỉ xin tự tình đôi chút nghĩ cũng không sao. Thiết tưởng chàng là người thông minh nhất đời, hà tất phải nói chi cho nhiều. Chàng ơi! Từ khi tôi gặp mặt chàng, ngày đêm trộm dấu thầm yêu, ăn không ngon, nằm không ngủ. Nếu chàng chẳng phụ cái thân xấu hèn này thì quyết cùng chàng xin chút ái ân để thỏa tình yêu dấu.
Lệ Minh Đường nghe nói, ngẫm nghĩ cười thầm:
“Cũng là bạn má hồng với nhau, sao lại say mê đến thế!”.
Lúc ấy Nhu Nương đứng rình ở ngoài thấy vậy chạy vào, vừa cười vừa nói:
- Thế nào? Đã thố lộ hết tâm tình chưa?
Đức Thơ biết không thể nào giấu giếm được, liền nắm tay Nhu Nương nói:
- Chị em mình vốn cùng chung một căn bịnh, chắc chị cũng thừa hiểu, sao chị còn hỏi làm gì?
Nhu Nương liếc nhìn Lệ Minh Đường, mỉm cười, nói:
- Chị em tôi đến với chàng như thế này ngẫm thật hổ thẹn! Song chỉ vì quá yêu cái tài mạo của chàng nên mới dám mặt dày mày dạn, tin chắc rằng chủ nhơn nhà này không nghi ngờ chi đâu, xin chàng chớ ngại.
Nói rồi hai hàng nước mắt chảy xuống ròng ròng. Lệ Minh Đường thấy vậy nghĩ thầm:
“Tiếc thay, hai nàng không biết đem cái nhiệt tình ấy mà đối đãi với nghĩa phụ ta, nếu nay ta không cự tuyệt hai nàng thì làm sao cho phải đạo”.
Nghĩ rồi, Lệ Minh Đường nghiêm giọng đáp:
- Tôi rất thông cảm tấm lòng của hai nàng, tôi đây quả thiệt không phải là kẻ vô tình, nhưng vì đối với hai nàng đã có thân phận là mẫu tử không thể nào ví như Hồng Phất Nữ hay Trác Văn Quân được. Vả lại, nếu việc này có vỡ lở ra thì hai nàng bị hại không ít. Vậy xin hai nàng nghĩ lại, hãy dốc lòng lo thờ phụng nghĩa phụ tôi, làm sao cho ngày sau được đông con nhiều cháu là hơn.
Nhu Nương và Đức Thơ nghe nói biến sắc mặt, hối hận vô cùng, bèn năn nỉ xin lỗi:
- Chàng còn trẻ tuổi mà biết trọng đường nghĩa tiết như vậy, quả trên đời hiếm có. Chị em tôi nay được lời chàng khuyên nhủ nên mới khỏi phải thất tiết, thật chị em tôi cảm ơn rất sâu, nhưng những hành động xấu xa của chúng tôi xin chàng làm ơn giữ kín, chớ nên thố lộ mà tội nghiệp.
Lệ Minh Đường nói:
- Tôi đã biết cầm quyển sách lên đọc, tất nhiên không khi nào biết nói xấu ai, vậy hai nàng chớ nên nghi ngại điều ấy.
Hai nàng nghe nói mừng rỡ:
- Chúng tôi không ngờ chàng lại có tình nghĩa chu toàn đến thế, thật chị em chúng tôi cam chịu tội.
Lệ Minh Đường nói:
- Hai nàng cùng tôi đã là mẫu tử rồi, nếu nay tôi đi làm như vậy chẳng hóa ra tôi là kẻ không biết điều sao?
Hai nàng nghe nói khen ngợi chẳng cùng, liền bồng Nguyên Lãng từ tạ lui ra. Từ đó hai nàng rất kính phục Lệ Minh Đường và đối với Khương Nhược Sơn cũng được mặn nồng hơn xưa.
Đến tháng bảy năm ấy, các vị khảo quan phụ trách trường thi tại Hồ Quảng đã lần lượt đến nơi. Viên chánh chủ khảo là Viên Dung Hàn lâm Đại học sĩ, phó chủ khảo là Mạnh Chiêu Lễ bộ Lang trung.
Khi khảo quan vừa đến trường thi, các quan địa phương đều ra tiếp rước trọng thể.
Ngô Đạo Am vốn đã đậu tú tài nên đã có tên thi, chỉ có một mình Lệ Minh Đường phải trông mong vào tên gia nhơn đến kinh để quyên giám mới được vào trường. Lệ Minh Đường đợi mãi đến hôm nay vẫn không thấy tin tức tên gia nhơn, trong lòng bứt rứt lắm, chàng chỉ sợ phải đợi đến khoa sau thì muộn mất. Khương Nhược Sơn cũng lo lắng không yên. Lại thấy học bộ ra tờ bố cáo dạy đến ngày hai mươi bốn thì nạp quyển, khiến Khương Nhược Sơn lại càng nôn nóng hơn nữa.
Đợi mãi đến ngày mười bảy mới thấy hai tên gia nhơn ở Bắc Kinh về đến, Khương Nhược Sơn nổi giận mắng:
- Hai người đi thế nào mà mãi đến nay mới về? Công việc ra thế nào?
Hai tên gia nhơn liền mở gói lấy giám đơn và phong thư của người bạn gởi trao cho Khương Nhược Sơn. Khương Nhược Sơn mừng như kẻ lượm được vàng, vội vã cầm tiếp được giám đơn thì chạy ra huê viên trao cho Lệ Minh Đường và nói:
- Giám đơn đã có rồi đây, con có thành danh hay không cũng do nơi cái này đây!
Lệ Minh Đường mừng rỡ tạ ơn rồi lo sửa soạn nạp quyển đặng vào ứng thí.
Trước ngày chưa ra bảng đỗ, Khương Nhược Sơn đem các quyển giám của Lệ Minh Đường trao cho Ngô Đạo Am xem và hỏi:
- Tiên sanh hãy xem thử văn của Lệ Minh Đường ra sao? Nhắm có thể đỗ được không?
Ngô Đạo Am nói:
- Văn này quả là một bực nhơn tài, lời lẽ như châu ngọc, tôi thiết tưởng ít ai bì kịp.
Ngô Đạo Am lại hỏi thăm Lệ Minh Đường:
- Chàng hãy xem giùm văn của tôi thử ra thế nào?
Lệ Minh Đường lắc đầu từ chối:
- Sức học tôi còn kém, không dám bình phẩm.
Đến ngày hai mươi sáu tháng tám là ngày yết bảng, ba người ở nhà đang đợi tin mừng, xảy thấy một bọn đi báo hỉ đánh thanh la inh ỏi, kéo đến trước nhà Khương Nhược Sơn nói lớn:
- Chúng tôi xin chúc mừng tại nhà này có một vị trúng cử.
Ngô Đạo Am và Khương Nhược Sơn vội hỏi:
- Lệ Quân Ngọc đỗ thứ mấy?
Bọn ấy đáp:
- Chúng tôi không hiểu Lệ Quân Ngọc chỉ biết có Ngô Đạo Am tiên sinh đây trúng cử nhơn số ba mươi hai nên mới đến báo hỉ.
Khương Nhược Sơn hỏi:
- Các người không biết Lệ Quân Ngọc sao?
- Đúng, thiệt tình chúng tôi không biết.
Khương Nhược Sơn nghe nói biết là Lệ Quân Ngọc rớt rồi, bèn lấy tiền thưởng cho bọn báo hỉ. Ngô Đạo Am nói với Lệ Minh Đường:
- Văn của chàng như thế mà đánh hỏng, trái lại văn của tôi như thế mà đậu, quả khảo quan không có mắt. Vậy chàng cũng không nên thối chí ngã lòng, ráng đợi khoa sau sẽ giựt khôi nguyên.
Lệ Minh Đường đỏ mặt đáp:
- Văn bài của tôi xét cũng có nhiều chỗ bất thông, không đỗ được cũng là phải đó.
Vinh Phát thấy thế nói:
- Thôi để tôi ra tại đó xem lại bảng cho rõ ràng thử thế nào.
Nói rồi nó cắm đầu chạy một mạch đến cửa trường. Đến đây nó trông thấy người ta xúm xít chen nhau đông lắm không tài nào chen vào để xem bảng được.
Vinh Phát hỏi thăm một người đứng gần:
- Anh có biết được ai đỗ giải nguyên không?
Người ấy đáp:
- Lệ Quân Ngọc đỗ giải nguyên. Ông giải nguyên này lạ lắm, thuở nay không có ai quen biết cả!
Vinh Phát hỏi vặn:
- Quả thật Lệ Quân Ngọc đỗ giải nguyên sao?
Thấy thái độ mừng rỡ của Vinh Phát, người ấy đoán biết Vinh Phág là người của Lệ Quân Ngọc nên mới hỏi:
- Lệ Quân Ngọc là ai đó? Người ấy quê ở đâu vậy?
Vinh Phát được tin chủ mình đỗ rồi, mừng quá, trống ngực đánh thình thịch, phải nghỉ cho khỏe hồi lâu mới lên tiếng đáp được:
- Người đỗ giải nguyên này chính là nghĩa tử của ông Khương Nhược Sơn ở đây.
Bọn báo hỉ nghe Vinh Phát nói vậy, mừng rỡ vội vàng kéo nhau đi báo hỉ để kiếm tiền, còn Vinh Phát đã hỏi rõ rồi cũng lật đậy chạy dông về nhà mệt thở hào hển.
Lệ Minh Đường trông thấy thái độ Vinh Phát có ý sợ sệt, vội hỏi:
- Thế nào mà mi hoảng hốt như vậy?

TOP

Chương 25

Thấy bút tích, Lệ Minh Đường tư tưởng.
Cảnh sắc đẹp, Lưu Khuê Bích ra binh.



Vinh Phát nói trong hơi thở:
- Thầy đỗ giải nguyên rồi! Bọn báo hỉ nó thấy tên mà không biết thầy ở đâu, lúc nãy nghe tôi nói, chúng mừng lắm, lát nữa đây chúng sẽ đến đây báo hỉ đấy!
Nghe nói, Ngô Đạo Am mừng rỡ:
- Ừ, có vậy mới gọi là khảo quan có con mắt tinh đời chứ!
Quả nhiên, chỉ một lát sau đã thấy bọn báo hỉ rầm rộ kéo đến đồng thanh nói lớn:
- Ông Lệ Quân Ngọc là nghĩa tử của Khương lão gia đây, đã đỗ Giải nguyên nên chúng tôi đến đây chúc mừng.
Khương Nhược Sơn vội lấy tiền cho bọn báo hỉ rồi truyền gia nhơn thết tiệc khoản đãi. Sau đó, quan Tuần phủ sai người đi rước Giải nguyên tân khoa đi bái kiến các khảo quan.
Lệ Minh Đường vào bái yến quan chánh chủ khảo là Viên Dung. Viên Dung thấy Lệ Minh Đường là một thư sinh tuổi trẻ lại thêm tướng mạo đoan trang, dung nghi phong nhã, trong lòng khen thầm, liền mời ngồi dùng trà và nói:
- Khi ta chấm đến quyển văn giải tác ấy, ngỡ là một tay lão nho, ngờ đâu lại của một bực thư sinh niên thiếu, thật đáng khâm phục thay! Vậy nay mai đây sắp đến kỳ thi hội, chàng nên mau mau sửa soạn vào kinh ứng thí gấp, ta tin chắc thế nào cũng chiếm được bảng vàng.
Lệ Minh Đường thưa:
- Tôi may được như vầy là nhờ ơn phòng sư đấy!
Nói rồi cúi đầu bái tạ lui ra, đi đến bái yến phó chủ khảo cùng các vị phòng sư khác.
Trong ngày hôm ấy, các hàng quan lại địa phương mang đồ lễ vật đến nhà Khương Nhược Sơn để biếu mừng ông Giải nguyên tân khoa đông như hội, Khương Nhược Sơn bày tiệc khoản đãi rất hậu.
Chiều hôm ấy Lệ Minh Đường làm lễ bái yết tổ miếu và lạy mừng vợ chồng Khương Nhược Sơn, kế qua hôm sau có bọn đồng niên đến mừng nữa làm cho Khương Nhược Sơn vui vẻ chẳng cùng. Qua ngày thứ ba, Lệ Minh Đường vào dự yến để tiễn các vị chánh chủ khảo về kinh. Trước khi đi, các quan ai nấy đều căn dặn Lệ Minh Đường nên đến kinh để thi hội.
Bữa nọ, Lệ Minh Đường hỏi Khương Nhược Sơn:
- Thưa nghĩa phụ, chẳng hay tổ mộ nhà ta ở đây, xin nghĩa phụ chỉ cho con đặng làm lễ bái yết.
Khương Nhược Sơn nói:
- Tổ mộ nhà ta ở huyện Giang Lăng, từ đây đến đó phải tốn bảy tám ngày trường, thật xa xôi quá, con đi làm sao cho được.
Lệ Minh Đường nói:
- Con đã muốn làm lễ bái yết tổ mộ thì dẫu có xa xôi cách trở bao nhiêu con cũng chẳng từ. Vậy xin nghĩa phụ cho con ra đi vào ngày mai này.
Khương Nhược Sơn vô cùng đẹp dạ, gật đầu nói:
- Nếu con có lòng như vậy thì tốt lắm đó.
Rồi Nhược Sơn trở vào thuật lại cho Tôn thị nghe và nói:
- Nghĩa tử ta có tấm lòng chung thủy nên định sáng mai cùng ta về Giang Lăng đặng bái yết tổ mộ, việc này sẽ làm cho ta vinh diệu lắm, vì qua đó hết thảy thân tộc ta sẽ khen ngợi rằng ta có một nghĩa tử xứng đáng.
Tôn thị nghe nói trong lòng cũng sung sướng, lo đi sắm sửa hành lý, đồng thời sai người đi mướn kiệu đặng sáng mai khởi hành cho sớm.
Bảy hôm sau đến nơi, Khương Nhược Sơn vào ở một căn nhà của người trong thân tộc, rồi dẫn Lệ Minh Đường đi thăm các bậc tôn trưởng ở đó. Ai nấy trông thấy tài mạo của Lệ Minh Đường cũng đều khen ngợi, khoản đãi rất trọng hậu.
Khương Nhược Sơn xuất tiền giúp đỡ cho những nhà nghèo khó trong họ, nên mọi người đều cám cảnh chẳng cùng.
Sau khi làm lễ bái yết tổ mộ, Lệ Minh Đường hỏi thăm biết được nhà của Hoàng Phủ Kính xưa kia ở cách đó không xa nên muốn đến đó thăm một chút cho hả dạ. Nàng tỏ ý cho con Vinh Phát biết.
Sáng hôm sau, Lệ Minh Đường nói với Khương Nhược Sơn:
- Hôm nay nhân lúc nhàn hạ, xin nghĩa phụ cho con cùng Vinh Phát đi dạo chơi đặng xem phong cảnh chung quanh đây.
Khương Nhược Sơn nói:
- Đi xem khung cảnh để giải trí là điều hay, nhưng hai thầy trò đều yếu đuối quá, vậy có đi phải mướn kiệu và chớ nên đi xa lắm nhé.
Lệ Minh Đường vâng lời, cùng Vinh Phát ra đi, lần dò hỏi thăm đến nhà Hoàng Phủ Kính.
Khi đến nơi, trông thấy lầu son gác tía, tòa dọc dãy ngang mười phần đồ sộ, nhưng cửa ngõ đều đóng chặt lại có giấy của cẩm y vệ niêm phong trông phong cảnh thật tiêu điều buồn bã.
Phía trước có dán một tờ yết thị khổ giấy to, bản rằng tòa nhà ấy Thượng thư đã giao cho quan địa phương gìn giữ.
Lệ Minh Đường xúc cảnh sanh sầu, đôi hàng lụy ngọc tuôi rơi và nói với Vinh Phát:
- Nhà Hoàng Phủ bị bọn gian thần làm hại đến nỗi tiêu điều như vầy thì vợ chồng ta biết đến bao giờ mới gặp mặt?
Vinh Phát nói:
- Tiểu thơ đã dốc một lòng tiết nghĩa, chắc trời kia sẽ phò trợ, thế nào rồi đây vợ chồng sẽ đặng sum hiệp một nhà chớ chẳng không đâu!
Ngọn gió thoảng quả, mấy chiếc lá vàng rơi lả tả trong cảnh hoang vu khiến Lệ Minh Đường càng thêm cảm động, nàng liền ứng khẩu ngâm tám câu thơ:
Tây phong tú tú yểm trùng môn,
Đạo thị tướng quân cựu trạch tiền?
Quyết chiến dĩ hư trừ tận kích?
Châu tùy sơ tú toản đồng hoàn.
Chinh y chiến mã nhơn hà tại,
Dạ nguyệt không lương yến bất toàn.
Tranh tợ đương niên Vương, Tạ phủ,
Anh hùng đồ ức hạ lang sơn.
Dứt tiếng ngâm, Lệ Minh Đường trở gót lui ra. Đi qua một đoạn đường quanh co, xảy thấy phía trước có một tòa miếu võ rất nguy nga, trước cửa treo tấm biển đề năm chữ “Cửu Thiên Huyền Nữ miếu” bằng vàng chói lọi. Hai thầy trò liền ghé vào xem.
Vào đến nơi, gặp một vị lão tăng, Lệ Minh Đường chào và hỏi:
- Tôi nghe Hoàng Phủ Nguyên soái bị giặc bắt cầm tại Phiên quốc, còn gia quyến bị bắt về kinh, chẳng hay bấy lâu nay có nghe tin tức gì không?
Lão tăng nói:
- Một nhà phước đức như thế mà gặp phải tai họa thật đáng thương. Trước khi Doãn Phu nhơn và Trưởng Hoa Tiểu thơ bị bắt giải về kinh, chỉ có một mình Hoàng Phủ Thiếu Hoa biết trước nên trốn đi được mà thôi, song bấy lâu nay không nghe tin tức gì hết. Việc này bần tăng nghe đồn rằng: Hoàng Phủ Công tử cùng với một nhà thế hào nào đó tranh hôn để lấy con gái họ Mạnh, kết quả họ Mạnh lại gả con cho Hoàng Phủ Công tử, nên mới xảy ra tai họa này. Ôi! Chỉ vì một chút lương duyên của họ Mạnh mà ra nông nỗi, chẳng biết họ Mạnh kia có gìn lòng thủ tiết đặng không, nếu không thì tội nghiệp cho nhà Hoàng Phủ lắm.
Lệ Minh Đường nghe nói động lòng muốn sa nước mắt, nhưng nàng cố gượng hỏi:
- Nghe nói Hoàng Phủ Công tử võ nghệ tinh thông nhưng không biết về văn chương ra thế nào?
Lão tăng đáp:
- Bần tăng có nghe nói Hoàng Phủ Nguyên soái dạy dỗ công tử và tiểu thơ Trưởng Hoa cả hai đều thông văn võ. – Nói rồi giơ tay chỉ hai câu đối trước ngõ miếu:
- Kìa! Hai câu đối ấy là chính tay Hoàng Phủ Công tử viết ra đó. Tiên sinh hãy xem qua thì biết ngay tài học của người ra thế nào.
Nghe nói, Lệ Minh Đường bước tới xem thì thấy hai câu đôi viết theo lối chữ bát phân, nàng lẩm bẩm đọc:
“Thánh giái nham nghiêu thanh khải viễn,
“Thiền thành tú tịnh vị hương cao.
Bên câu đối lại có viết thêm một hàng chữ nhỏ: “Hoàng Phủ Chi Điền bái đề”.
Lệ Minh Đường xem xong, nghĩ thầm:
“Ngờ đâu Hoàng Phủ Công tử văn võ toàn tài như thế này! Ôi, đáng thương, đáng tiếc thay”.
Nghĩ rồi, Lệ Minh Đường hỏi lão tăng:
- Hoàng Phủ Công tử tên Chi Điền sao?
- Chi Điền tức là hiệu của công tử đó!
Lúc bấy giờ mặt trời đã ngả về phương tây, Lệ Minh Đường bèn trao tiền cúng lễ rồi cáo từ lui gót. Lão tăng biết ý, cố cầm lại để đãi một bữa cơm chay, nhưng Lệ Minh Đường từ chối, nói:
- Xin lão tăng để cho khi khác, vì đường về còn xa, không thể trì hoãn được.
Lão tăng không dám cầm nữa, liền tiễn chân đưa Lệ Minh Đường ra khỏi cửa miếu, đoạn hai thầy trò lên kiệu trở về.
Từ khi Lệ Minh Đường trông thấy bút tích của Hoàng Phủ Thiếu Hoa, về nhà trong lòng thương nhớ mãi chẳng lúc nào khuây, ăn không biết ngon, nằm ngủ không yên giấc.
Một hôm, Lệ Minh Đường ngủ vừa thức dậy chưa kịp rửa mặt, Vinh Phát trông thấy giựt mình nói:
- Ôi chao! Nhan sắc của tiểu thơ hôm nay sao mà sút kém đến thế?
Lệ Minh Đường không tin liền lấy kiếng ra soi thì quả nhiên dung nhan mình sút kem hơn xưa, nàng ứa nước mắt nói:
- Từ khi ta thấy bút tích của Hoàng Phủ Công tử đến nay ngày đêm trong dạ không yên, không biết hiện giờ công tử phiêu bạt nơi nào!
Vinh Phát nói:
- Tiểu thơ là người hiểu rộng nhìn xa, sao không dẹp bỏ nỗi ưu phiền để gìn giữ tấm thân, lo cầu cho đặng công danh mới có thể tìm phương cứu vớt cho Hoàng Phủ Công tử được, chớ tiều thơ cứ ôm thảm chất sầu mãi, làm cho tinh thần hao tổn, rủi lỡ dịp công danh thì ân hận suốt đời!
Lệ Minh Đường vỗ vai Vinh Phát nói:
- Ta cảm ơn ngươi đã có lời khuyên nhủ ta vô cùng quí hóa, vì vậy từ nay ta quyết dẹp mối tâm sự ấy để thực hiện cho kỳ được chí hướng của mình.
Thật vậy, bắt đầu từ đó trở về Hàm Ninh, Lệ Minh Đường chuyên lo chăm học sách vở luôn luôn.
Ngày kia, Khương Nhược Sơn nói với Tôn thị:
- Ta xem đôi vòng ngọc của Lệ Minh Đường cho Nguyên Lãng trước kia, biết chắc rằng Lệ Minh Đường không phải con nhà thường dân; nay chàng lại đi cùng ta qua tế mộ, thế thì ta cư xử với chàng như vậy thật là phải lẽ lắm.
Tôn thị nói:
- Tôi xem phu quân đối xử với chàng chưa được vừa đấy.
- Ôi chao! Ta cư xử với chàng như vậy còn bảo là chưa vừa thì còn bảo phải làm sao nữa?
- Phu quân tuổi già mà còn cưới thêm hai nàng tiểu thiếp, còn nghĩa tử kia đang độ xuân xanh lại để cho chàng ngày đêm vò võ một mình, chẳng hề nghĩ đến hôn sự, thì sao cho phải phận làm cha?
Khương Nhược Sơn nói:
- Việc ấy, ta cũng đã nghĩ đến từ lâu, nhưng ngặt vì khó tìm được một trang thục nữ xứng đôi vừa lứa với nghĩa tử ta. Bởi vậy ta muốn chờ khi nghĩa tử đến kinh thi hội; ở đó mới có nhiều trang thục nữ tài mạo xứng lứa vừa đôi, rồi ta sẽ tính cũng chẳng muộn.
Tôn thị gật đầu khen phải và nói:
- Phu quân nói phải lắm. Nghĩa tử ta tài mạo như vậy thật khó mà lựa chọn một người đẹp đôi, vậy phu quân đã có ý tính như thế thì cũng nên tỏ cho nghĩa tử ta biết.
Khương Nhược Sơn khen phải rồi thẳng ra huê viên, bước đến thơ phòng thuật hết những điều bàn luận cùng Tôn thị cho Lệ Minh Đường nghe và căn dặn:
- Vậy con có đến kinh, hễ gặp đặng mối nhơn duyên nào xứng đáng, con cứ việc nhận lời chớ đừng viết thư về cho cha làm gì phiền phức lắm.
Lệ Minh Đường nói:
- Con đã nguyện, khi nào chưa lập được công danh thì chưa tính đến việc hôn nhơn.
Khương Nhược Sơn nói:
- Hôn nhơn là việc hệ trọng trong đời, con cần phải lưu tâm đến mới được. Vậy hôm nay con phải lo sửa soạn để cùng Ngô Đạo Am tiên sinh đi lần xuống kinh. Ta cần đi sớm một chút thì tốt hơn.
Lệ Minh Đường vâng lời giở lịch ra xem, thấy cách ba ngày nữa đến ngày huỳnh đạo kiết nhựt, khởi hành rất tốt. Khương Nhược Sơn thì trở vào nhà lấy một trăm lượng vàng ra trao cho Lệ Minh Đường và căn dặn:
- Một trăm lượng vàng này con hãy cất đi và chớ cho ai biết, còn tiền lộ phí thì cha đã giao cho Ngô Đạo Am rồi, con khỏi nhọc lòng lo đến.
Lệ Minh Đường nói:
- Nếu tiền lộ phí cha đã giao cho Ngô tiên sinh rồi thì con còn đem số vàng to tát này theo nữa làm gì?
Khương Nhược Sơn nói:
- Ta muốn con đem vàng này theo đặng phòng khi có nhà quan nào chịu gả con, con sẽ có đủ tiền nạp lễ sính kim; nếu rủi có thiếu chút ít, con hãy hỏi vay của người bạn ta là Du Trí Văn cho khỏi lỡ việc. Vậy bây giờ để ta viết cho con một bức thư để khi đến kinh con cứ vào ngụ tại hiệu Văn Hưng là tiệm bán hàng lụa của Du Trí Văn. Khi nào con cần tiêu xài bao nhiêu đã có ông ta lo lắng cho.
Lệ Minh Đường nghe nói vô cùng cảm động. Sau đó, Lệ Minh Đường cùng với Ngô Đạo Am khởi hành đến kinh. Việc này xin gác lại, bây giờ xin nhắc qua việc quan Tuần phủ Sơn Đông.
Trước kia quan Tuần phủ Sơn Đông đã từng dâng biểu về trào tâu rằng tướng giặc Xuy Đài sơn là Vệ Dõng Đạt đã nhận vợ Hoàng Phủ Kính là Doãn Phu nhơn làm mẹ, còn Hoàng Phủ Trưởng Hoa làm em, chiêu tập côn đồ hơn ngàn tên, tạo thành một đám giặc hùng mạnh. Y xin triều đình phải đem binh đánh dẹp, nhưng lúc ấy vua Thành Tôn lo lắng việc quân giặc Liêu Đông đang hoành hành tại Đăng Châu, tình thế vô cùng nguy ngập nên không thể đem binh trừ giặc Xuy Đài sơn được.
Vua Thành Tôn vô cùng bối rối không biết nên liệu định thế nào. Lúc ấy, Lưu Khuê Bích thấy vậy nghĩ thầm:
“Ta rất lấy làm căm hận Hoàng Phủ Thiếu Hoa cướp mối lương duyên của ta. Chỉ vì hắn mà họ Mạnh giấu dao hành thích ta, làm cho ta đến ngày nay vẫn chưa cưới vợ được. Vậy bây giờ để ta tâu với triều đình lãnh binh đi dẹp bọn Xuy Đài sơn đặng giết Vệ Dõng Đạt và bắt Hoàng Phủ Trưởng Hoa về làm vợ thì hay biết bao!”.
Nghĩ rồi, lập tức tỏ bày với gia tướng, ai nấy đều khen phải.
Hôm sau Lưu Khuê Bích vào triều tâu:
- Hạ thần có nghe tin Vệ Dõng Đạt cùng với vợ con Hoàng Phủ Kính tụ hiệp tại Xuy Đài Sơn nhiễu hại nhơn dân. Vậy xin bệ hạ cho hạ thần đem binh đánh dẹp để đền bồi nợ nước.
Vua Thành Tôn nghe tâu, mừng rỡ phán:
- Nếu Quốc cựu đã có lòng cùng trẫm như vậy thì hay biết bao.
Dứt lời, vua Thành Tôn ban cho Khuê Bích một chiếc áo cẩm bào và phong cho làm chức Diệt khấu Đại Nguyên soái, sai quan Ngự tiền chỉ huy làm tiên phong, hiệp cùng Lưu Khuê Bích đem muôn binh ra đánh dẹp Xuy Đài sơn. Lại truyền cho quan Khâm thiên giám phải chọn ngày tốt cho Khuê Bích xuất binh.
Quan Khâm thiên giám chọn ngày mồng ba tháng chạp là ngày thanh long kiết nhựt. Vua Thành Tôn y tấu, liền dạy Khuê Bích vào cung bái yết cùng Lưu Hoàng hậu.
Lưu Khuê Bích vâng lịnh nhập cấm cung, thuật chuyện việc xin đi đánh giặc Xuy Đài sơn cho Lưu Hoàng hậu nghe. Lưu Hoàng hậu trong lòng cả đẹp, nói:
- Hiền đệ đã có chí khí như vậy quả là một thiếu niên anh hùng. Nếu đắc thắng ban sư hồi trào, thế nào cũng được trọng thưởng.
Dứt lời, Hoàng hậu truyền cung nữ dọn yến khoản đãi Lưu Khuê Bích, nhưng chàng chỉ dùng sơ vài chén rượu rồi giã từ lui về phủ. Lúc ấy Lưu Tiệp hay tin vừa sợ vừa giận, ông sai người kêu Khuê Bích vào la rầy:
- Thuở nay mi chưa từng ra trận bao giờ, nay sao mi dám cả gan phụng chỉ đi dẹp giặc?
Khuê Bích nói:
- Con nhận thấy võ nghệ của con có đủ sức dẹp được bọn ấy, xin thân phụ chớ nên lo ngại.
Lưu Tiệp rất bất bình nhưng vì thánh chỉ đã ra rồi làm sao cản trở được, nên dặn Lưu Khuê Bích:
- Lúc ra trận con không nên tự phụ, nghĩa là muốn làm việc chi cũng cần thương nghị với chư tướng, chứ đừng làm càn, con nên biết rằng việc binh gia không phải dễ đâu.
Tuy ngoài miệng Lưu Khuê Bích dạ dạ vâng vâng, song trong lòng không hề để ý đến lời dạy của cha.
Ngày sau Khuê Bích điểm binh ra luyện tập, mãi đến ngày mùng hai tháng chạp mới làm lễ tế cờ rồi cắt cho tướng tiên phong là Liên Đăng lãnh năm ngàn binh đi trước, còn mình dẫn đại binh từ từ kéo theo sau.
Nhắc lại, khi Ngô Đạo Am và Lệ Minh Đường đến Bắc Kinh, gia nhơn dẫn đến tiệm Văn Hưng và trao bức thư của Khương Nhược Sơn cho Du Trí Văn, Du Trí Văn xem thư biết ngay Lệ Minh Đường là nghĩa tử của Khương Nhược Sơn vừa mới đỗ Giải nguyên ở tỉnh, còn Ngô Đạo Am là em rể của người, vừa mới đỗ Cử nhơn, hai người cùng đến kinh đặng dự kỳ thi Hội.
Biết rõ, Du Trí Văn lấy làm mừng rỡ, nghĩ thầm:
“Nếu Khương Nhược Sơn mà được phú quí, chắc chắn ta đây cũng được dự phần vinh hiển”.
Nghĩ rồi niềm nở mời hai người vào thơ phòng và truyền gia nhơn thiết tiệc khoản đãi rất trọng hậu.
Trong khi tiếp chuyện, Du Trí Văn thấy Lệ Minh Đường tài mạo song toàn bèn hỏi:
- Chẳng hay quan Giải nguyên năm nay đã được mấy cháu?
Lệ Minh Đường đáp:
- Năm nay tôi mới lên mười sáu, hiện chưa kết hôn.
Du Trí Văn nghe qua ngạc nhiên:
- Tại sao Giải nguyên lại chưa kết hôn?
Lệ Minh Đường nói:
- Vì tôi đã quyết chí nếu chưa lập đặng công danh thì không dám tính đến việc hôn sự.
Du Trí Văn gật đầu khen:
- Quan Giải nguyên có chí lớn như vậy, nếu đem so sánh với Lưu Quốc cựu ở đây thì quả là hai thái cực. Vì Lưu Quốc cựu là con nhà quan mà hay phóng túng, chơi bời háo sắc quá, thành ra mất cả tư cách con người.

TOP

Chương 26

Đánh Xuy Đài sơn, công tử Lưu bị bắt.
Muốn vạch âm mưu, Vệ Dõng Đạt khảo tra.



Lệ Minh Đường nghe nói muốn tìm hiểu về Lưu Khuê Bích nên giả vờ ngạc nhiên hỏi:
- Lưu Quốc cựu là ai? Hành động của người thế nào, xin ông vui lòng thuật chuyện lại cho tôi biết với.
Du Trí Văn cười nói:
- Lưu Quốc cựu tức là Lưu Khuê Bích, con của Lưu Tiệp, hiện nay làm chức Trấn quốc Tướng quân và vừa rồi lại được phong làm Diệt khấu Đại Nguyên soái lãnh binh đi dẹp giặc Vệ Dõng Đạt ở tại Xuy Đài sơn.
Lệ Minh Đường nói:
- Tôi cũng có nghe người ta đồn rằng Lưu Khuê Bích cùng với Hoàng Phủ Thiếu Hoa tranh hôn, rồi nhà Hoàng Phủ bị tiêu tan hết, nhưng chẳng biết vợ con Hoàng Phủ Nguyên soái bị bắt giải về kinh rồi triều đình phân xử thế nào.
Du Trí Văn liền nói cho Lệ Minh Đường biết rõ việc vợ con Hoàng Phủ Nguyên soái bị bắt giải về kinh, nhưng khi đi ngang qua núi Xuy Đài bị tướng giặc ở đó là Vệ Dõng Đạt đón giết Khâm sai, rồi bắt hết hai mẹ con đem lên núi.
Lệ Minh Đường hỏi:
- Nếu vợ con Hoàng Phủ Nguyên soái bị giặc bắt như vậy, chắc là tự vận rồi phải không?
Du Trí Văn lắc đầu giải thích:
- Quan Giải nguyên chưa rõ đấy, chớ Vệ Dõng Đạt là một trang thiếu niên tuổi chưa đầy hai mươi mà khí phách anh hùng ít ai bì kịp. Người ta được biết rõ rằng hiện nay Vệ Dõng Đạt đã nhận Doãn Phu nhơn làm mẹ và Hoàng Phủ Trưởng Hoa làm em. Chàng đối xử với hai người tử tế lắm. Lưu Quốc cựu biết Hoàng Phủ Tiểu thơ là người có nhan sắc, nên mới xin triều đình lãnh binh đi đánh dẹp Xuy Đài sơn đặng bắt Hoàng Phủ Tiểu thơ về làm vợ đó.
Lệ Minh Đường hỏi:
- Tôi nghe nói có thánh chỉ cho họ Mạnh kết duyên cùng Lưu Quốc cựu mà sao Lưu Quốc cựu lại bỏ Mạnh Tiểu thơ để thực hiện ý riêng như vậy?
Du Trí Văn bèn thuật cho Lệ Minh Đường nghe chuyện Mạnh Tiểu thơ giấu dao hành thích, nhưng bất thành, chỉ đâm trúng vào trán Lưu Quốc cựu nên sợ hãi nhảy xuống Côn Minh trì tự vận chết rồi. Sau đó mạnh Thượng thơ qua bắt đền nhơn mạng, việc kiện cáo này hai bên đã đến giữa triều đình nhưng Hoàng thượng xử huề, cho lập bia làm kỷ niệm hành động tiết liệt của Mạnh Tiểu thơ thôi.
Lệ Minh Đường nghe qua động lòng thương xót Tô Yến Tuyết, vì nàng đã thủ tiết và báo thù cho mình, đành phải hy sinh tấm thân ngà ngọc.
Nàng không thể nào ngăn được giọt lụy, nên vội lui vào phòng trong nằm khóc một mình.
Hôm sau, Lệ Minh Đường lấy ra bốn chục lượng trao cho Du Trí Văn để làm tiền trà nước trong những ngày ở đây đợi thi. Du Trí Văn chối từ không nhận.
Lệ Minh Đường nói:
- Chúng tôi đến ở đây tất nhiên làm phiền cho ông nhiều lắm, điều này tôi vâng lời nghĩa phụ tôi dạy, nếu ông không nhận số bạc này chắc chúng tôi không dám ở.
Cực chẳng đã, Du Trí Văn phải nhận.
Nhắc qua việc Lưu Khuê Bích, từ khi dẫn binh đi đánh Xuy Đài sơn, dọc đường bị tuyết xuống quá lạnh, binh không thể đi nhanh được, mãi đến ngày mùng mười tháng giêng mới đến Xuy Đài sơn.
Khi còn cách núi độ ba dặm, bèn truyền binh an dinh hạ trại.
Nói về Vệ Dõng Đạt tức là Vệ Dõng Nga đổi tên, trước đây nàng ra sức chiêu tập binh mã quyết một lòng đánh Phiên để cứu thân phụ nàng là Vệ Hoán về triều. Trước kia nàng ở với người chú là Vệ Trấn Tổ, người này có đứa con thứ là Vệ Dõng Bưu sức mạnh phi thường, võ nghệ tinh thông, chỉ nhỏ hơn Vệ Dõng Nga một tuổi.
Chỉ vì Vệ Trấn Tổ sợ để Vệ Dõng Nga ở đó có thể liên lụy đến mình, nên mới buộc nàng qua Đăng Châu để thăm tin tức thân phụ, còn Vệ Dõng Bưu quá thương chị nên lén ăn cắp tiền đi qua Đăng Châu tìm chị.
Khi đi ngang qua Xuy Đài sơn, Vệ Dõng Bưu bị bọn lâu la của Vệ Dõng Nga ào ra cướp giựt nhưng chàng ra sức đánh vỡ tan. Bọn lâu la chạy về phi báo, Vệ Dõng Đạt lên ngựa ra trận, chị em gặp nhau mừng rỡ chẳng cùng, nàng bèn thuật lại việc đổi tên giả trai làm chủ trại rồi bảo Dõng Bưu ở luôn tại đó, chị em chung sức cùng nhau lo việc lớn.
Ngày kia Vệ Dõng Đạt đang ngồi trong trại, xảy thấy lâu la chạy vào phi báo:
- Nay triều đình có sai Trấn quốc Tướng quân là Lưu Khuê Bích thống lãnh một muôn binh mã kéo đến Xuy Đài sơn, hiện còn cách núi chừng ba dặm, và quân sĩ đang lập trại.
Vệ Dõng Đạt nghe báo vội truyền quân canh phòng nghiêm nhặt rồi vào hậu trại yết kiến Doãn Phu nhơn thuật lại việc ấy cho phu nhơn và Trưởng Hoa Tiểu thơ nghe.
Trưởng Hoa Tiểu thơ nghe nói giận phừng gan, nàng nghiến răng, nói:
- Tên Lưu Khuê Bích là kẻ thù không đội trời chung của tôi, nay đã mang thân đến đây, vậy để mai tôi ra trận bắt nó về banh da xẻ thịt cho hả giận.
Vệ Dõng Đạt lên tiếng can:
- Không nên đâu! Tuy hắn là kẻ thù của tiểu thơ thật, nhưng dù sao hắn cũng lãnh sứ mạng của triều đình, nếu tiểu thơ ra đương đầu, tất nhiên triều đình sẽ căm hận, có hại thêm cho Hoàng Phủ Công tử và sẽ gặp nhiều nỗi khó khăn. Chi bằng để tôi sửa trị, vì tôi đã đổi tên tuổi rồi, dẫu triều đình có biết cũng không trách tôi được. May ra có bắt hắn được, ta sẽ dùng cực hình khảo tra, bắt làm tờ cung trạng thú nhận cả tội lỗi rồi sẽ giữ hắn lại, đợi khi nào chúng ta về được tới triều đình dâng tờ cung trạng ấy lên làm tang cớ, Thánh thượng mới thấu rõ lòng gian ác của chúng.
Doãn Phu nhơn nói:
- Con dự định như vậy thật phải, nhưng con cần phải cẩn thận lắm mới được, vì Lưu Khuê Bích là một tay võ nghệ không phải tầm thường.
- Xin thân mẫu chớ lo, con đã lập mưu kế rồi, thế nào cũng bắt được tên gian ác ấy.
Hôm sau Vệ Dõng Đạt ra ngồi giữa tụ nghĩa đường, lớn tiếng truyền lệnh cho các tướng sĩ:
- Lưu Khuê Bích chính là tên gian tặc, chính hắn đã hại cả nhà Hoàng Phủ Nguyên soái, vậy bây giờ ta phải thân hành ra đánh nó mới được.
Vệ Dõng Đạt vừa nói dứt lời, Vệ Dõng Bưu đứng dậy thưa:
- Xin cho em ra đánh trận đầu, nếu không thắng nổi, ca ca sẽ ra đánh sau cũng chẳng muộn.
Vệ Dõng Đạt nói:
- Cũng được, song em có đi thì phải cẩn thận lắm mới được.
Vệ Dõng Bưu lãnh lịnh, cùng với viên phó tướng Ngô Võ đem binh xuống núi. Quân sĩ vào phi báo, Lưu Khuê Bích lập tức kéo binh ra lập trận thế đối địch.
Vệ Dõng Bưu trông thấy Lưu Khuê Bích mặt trắng môi son, mình mặc hồng bào, tay cầm ngân thương, cỡi con bạch mã, phía sau có trương cây cờ màu đỏ thêu một hàng chữ vàng: “Diệt khấu Đại Nguyên soái LƯU”.
Vệ Dõng Bưu chưa kịp hành động gì, bỗng thấy tướng tiên phong của Lưu Khuê Bích là Liên Đăng giựt ngựa lướt tới chỉ vào mặt Vệ Dõng Bưu, quát hỏi:
- Kìa tặc tử, ngươi có phải là Vệ Dõng Đạt đó không?
Vệ Dõng Bưu trợn mắt nạt lớn:
- Không phải! Ta là Vệ Dõng Bưu em của Vệ Dõng Đạt đây, còn ngươi tên họ chi hãy nói mau lên.
Liên Đăng nói:
- Ta là tướng tiên phong của Lưu Nguyên soái tên là Liên Đăng, nếu ngươi không phải là Vệ Dõng Đạt thì ta không thèm đánh, hãy mau mau về kêu Vệ Dõng Đạt ra đây nạp mạng.
Ngô Võ đứng sau lưng Vệ Dõng Bưu nghe Liên Đăng nói phách, nổi giận xung thiên, vỗ ngựa xốc tới hét như sấm nổ:
- Quân cẩu đầu, chớ có khua môi múa mỏ, hãy coi đây, đao của Ngô Võ ta đây!
Vừa nói vừa múa đao nhắm ngay đầu Liên Đăng chém sả xuống. Liên Đăng vội cử giáo đỡ vẹt ra rồi đánh vùi với Ngô Võ. Hai đàng đánh nhau hơn mười hiệp vẫn không phân thắng bại. Lưu Khuê Bích đứng sau trận thấy vậy, lén giương cung bắn một phát trúng nhằm yết hầu khiến Ngô Võ té nhào xuống ngựa. Vệ Dõng Bưu nổi giận giục ngựa lướt tới đánh vùi với Lưu Khuê Bích. Được ba mươi hiệp, Vệ Dõng Bưu liệu thế đánh không lại, liền quày ngựa bỏ chạy. Khuê Bích giục ngựa rượt theo, vừa đến chân núi, Vệ Dõng Bưu đã lên núi rồi, lâu ra trên núi ném cây đá xuống tơi bời, Lưu Khuê Bích kinh hãi quất ngựa chạy dài.
Vệ Dõng Bưu vào trại thuật việc giao chiến thất bại cho Vệ Dõng Đạt nghe, Vệ Dõng Đạt thản nhiên, nói:
- Việc binh gia thắng bại là lẽ thường, không đáng ngại. Để ngày mai ta ra trận sẽ có cách phá được chúng nó.
Sáng sớm hôm sau, Lưu Khuê Bích kéo quân đến chân núi khiêu chiến, lâu la chạy vào phi báo; Vệ Dõng Đạt mang giáp lên ngựa dẫn binh xuống núi, Trưởng Hoa Tiểu thơ căn dặn:
- Lưu Khuê Bích là một kẻ hung bạo, ca ca có ra trận cần phải cẩn thận lắm mới được.
Vệ Dõng Đạt gật đầu rồi kéo binh xuống núi lập bày trận thế. Trong đám quân của Lưu Khuê Bích có đứa biết mặt Vệ Dõng Đạt nên nói nhỏ với Lưu Khuê Bích:
- Người cầm thanh trường kiếm ấy là Vệ Dõng Đạt đó.
Lưu Khuê Bích liếc thấy Vệ Dõng Đạt mặt trắng như ngọc, môi tợ thoa son, dung mạo đẹp đẽ muôn phần, chàng giựt mình nghĩ thầm:
“Lạ thật! Ai ngờ đâu tên tướng giặc này hình dung lại tuấn nhã đến thế. Nếu vậy thì chắc nó tư tình với Trưởng Hoa Tiểu thơ rồi”.
Nhưng Lưu Khuê Bích lại nghĩ:
“Nghe đồn Trưởng Hoa đẹp lắm, nếu nàng có mất trinh đi nữa, cũng còn hơn những hạng gái khác”.
Nghĩ rồi, Lưu Khuê Bích giục ngựa lướt tới lớn tiếng hỏi:
- Ngươi có phải là tặc tướng Vệ Dõng Đạt đó không?
Vệ Dõng Đạt gật đầu:
- Chính ta đây, còn ngươi có phải là gian tặc Lưu Khuê Bích?
Lưu Khuê Bích cười ha hả đáp:
- Đã biết danh ta sao không xuống ngựa đầu hàng, để ta ra tay làm gì cho nhọc sức?
- Kìa Lưu tặc! Chớ có phách lối, hãy xem đường kiếm của ta đây.
Nói rồi vỗ ngựa lướt tới vung thanh trường kiếm bay vun vút nhắm vào yếu huyệt đối phương đâm lia lịa. Lưu Khuê Bích thấy đường kiếm đối phương quả nhiên lợi hại, không dám khinh thường vội tràn sang một bên tránh né rồi vung giáo rước đánh. Hai người đánh vùi nhau, cát bay đá chạy, cây lá xung quanh bị sức gió của đao kiếm gãy rụng tơi bời.
Hai người đánh nhau trên mười hiệp chưa phân thắng bại. Vệ Dõng Đạt nhận thấy Lưu Khuê Bích sực lực mạnh mẽ, nhắm bề khó thắng, bè chém bậy một kiếm rồi giả thua chạy bay về núi. Lưu Khuê Bích giục ngựa đuổi theo, lâu la trên núi thấy vậy giương cung bắn xối xả xuống như mưa. Khuê Bích túng thế phải thâu binh về trại.
Vệ Dõng Đạt về trại thuật lại mọi việc cho mẹ con Doãn Phu nhơn nghe và nói:
- Tên gian tặc Lưu Khuê Bích quả nhiên lợi hại, ta cần phải dựng kế mới có thể bắt hắn được.
Dứt lời, liền gọi Vệ Dõng Bưu vào kề tai nói nhỏ một hồi rồi căn dặn:
- Em cứ việc đem năm trăm binh xuống núi y kế mà làm, thế nào cũng bắt được Lưu tặc.
Hôm sau Khuê Bích dẫn quân đến khiêu chiến nữa, Vệ Dõng Đạt liền dẫn binh xuất trận. Khuê Bích vừa trông thấy Vệ Dõng Đạt đã cười như sấm nổ, nói:
- Mi quả đã tới số rồi! Ta cho mi sống sót được một đêm, nay mi dẫn xác đến đây thật là cả gan!
Vệ Dõng Đạt nạt lớn:
- Lưu tặc! Hôm nay mà ta không bắt được mi, quyết không thèm trở về núi nữa!
Nói rồi múa kiếm chém tới như mưa, Lưu Khuê Bích cử giáo rước đánh, hai người đánh nhau hơn ba mươi hiệp, đột nhiên Vệ Dõng Đạt quày ngựa bỏ chạy. Khuê Bích giục ngựa đuổi theo hét:
- Tặc tướng, chạy đi đâu cho khỏi tay ta. Ta quyết theo lấy đầu mi cho mà xem.
Lúc ấy, bọn lâu la Xuy Đài sơn cũng giả vờ hoảng hốt quăng cả vũ khí bỏ chạy tán loạn. Lưu Khuê Bích đắc chí quất ngựa đuổi nà theo. Liên Đăng thấy vậy giục ngựa tiếp theo cản Lưu Khuê Bích:
- Không tiện đâu Nguyên soái ạ! Quân giặc không chạy lên núi tất nhiên có gian kế gì đây, xin Nguyên soái hãy trở lại là hơn.
Lưu Khuê Bích nghe nói giựt mình gò cương lại. Phía trước Vệ Dõng Đạt cũng gò cương lại giơ kiếm chỉ vào mặt Khuê Bích nói lớn:
- Lưu tặc, hôm nay mi đừng hòng sống sót nữa. Mi đã vào vòng mai phục của ta rồi, hãy mau mau xuống ngựa đầu hàng để bảo toàn tánh mạng là hơn.
Lưu Khuê Bích nghe nói nổi giận xung thiên quát to:
- Hay lắm, quân mai phục của mi đâu? Hãy ra đây ta giết hết không chừa một đứa nào cho mà xem.
Nói rồi giục ngựa lướt tới đuổi nà theo Vệ Dõng Đạt, chứ không nghe lời can gián của Liên Đăng nữa.
Vệ Dõng Đạt chạy ngoằn ngoèo qua mấy nẻo đường, đến một khu rừng rậm kia liền quày ngựa lại nhìn thẳng vào mặt Lưu Khuê Bích, nạt lớn:
- Lưu tặc, mi tới số rồi, hãy xuống ngựa chịu trói cho mau.
Lưu Khuê Bích giận tím gan liền múa giáo lướt tới toan đâm Vệ Dõng Đạt, bỗng dưng nghe dưới chân đất rung chuyển rồi đánh ầm một cái. Thế là Lưu Khuê Bích cả người lẫn ngựa đều sa xuống hầm mất dạng.
Vệ Dõng Đạt ngửa mặt lên trời buông một chuỗi cười khoái trá rồi truyền quân đem câu móc kéo Lưu Khuê Bích lên trói chặt giải tuốt về sơn trại.
Quân sĩ chạy về báo với Liên Đăng. Hắn thất kinh, vội thâu quân rồi sai người đi dọ xem tin tức chủ soái.
Vệ Dõng Đạt giải Lưu Khuê Bích về giam vào ngục, rồi cắt lâu la trông coi kỹ lưỡng, đoạn cho mời mẹ con Doãn Phu nhơn đến tụ nghĩa đường để thương nghị.
Vệ Dõng Đạt nói:
- Con đã bắt được Lưu tặc đem về đây rồi, xin mẫu thân phân xử.
Trưởng Hoa Tiểu thơ nghe nói mừng quá, xen vào nói:
- Lưu Khuê Bích âm mưu hãm hại gia đình ta tan nát, nay đã bắt được rồi, hãy phân thây hắn ra muôn đoạn cho thỏa lòng căm tức.
Vệ Dõng Đạt nói:
- Không nên đâu! Lưu Khuê Bích lãnh mạng của triều đình đến đây, chúng ta không nên giết mà chỉ nên dùng nghiêm hình khảo tra buộc hắn phải làm ra một tờ cung trạng thú nhận hết tội lỗi của hắn, rồi ta đem cái bằng chứng ấy về nạp cho triều đình, mới mong cởi mở nỗi oan ức trước kia được.
Doãn Phu nhơn khen phải, rồi truyền quân dẫn Lưu Khuê Bích vào. Lâu la vâng lệnh, đến ngục thất dẫn Lưu Khuê Bích đến trước sân, nhưng Khuê Bích vẫn đứng hiên ngang với vẻ mặt ngạo nghễ chứ không chịu quì.
Vệ Dõng Đạt nổi giận chỉ vào mặt Khuê Bích, hét:
- Lưu tặc! Mi đã bị bắt đến đây mà còn cứng đầu không chịu quì sao?
Lưu Khuê Bích gằn giọng nói:
- Ta đường đường một vị quan của triều đình, đời nào lại chịu quì lại quân thảo khấu chúng bây. Chúng bây hãy giết ta đi, rồi đây sẽ có quân của triều đình đến đây giết sạch chúng bây không còn chừa một đứa cho mà xem.
Vệ Dõng Đạt cười gằn, nói:
- Mi cậy có Hoàng hậu là chị mi, nên mới âm mưu hãm hại Hoàng Phủ Nguyên soái. Ta hỏi mi, mi có công trạng gì mà được gia phong quyền chức đó? Mi quả thiệt là đứa đại gian ác!
Dứt lời, Vệ Dõng Đạt lên tiếng truyền lệnh:
- Quân sĩ đâu, hãy lấy côn sắt đánh vào đầu gối hắn xem thử hắn có quì không cho biết.
Quân sĩ vâng lệnh, lấy côn nhắm hai đầu gối Lưu Khuê Bích đánh kêu nghe bôm bốp.
Đau quá, Lưu Khuê Bích chịu không nổi, quì xuống năn nỉ:
- Trăm lạy phu nhơn, xin phu nhơn nghĩ tình xưa mà tha thứ cho tôi được về triều thì ơn ấy tôi không bao giờ dám quên.
Doãn Phu nhơn nghe nói càng ghét cay ghét đắng, lớn tiếng mắng:
- Quân gian ác kia, chỉ vì việc tranh hôn mà mi nhẫn tâm phóng hỏa đốt Tiểu Xuân đình toan ám hại con ta, rồi lại thông mưu với cha mi tiến cử phu quân ta ra đương đầu với giặc để rồi sàm tấu cho thánh thượng nghi ngờ. Thế thì hôm nay mi phải cung khai hết ra đây mới khỏi bị tra tấn. Bằng không, nhứt định ta đánh chết bỏ xác tại đây.
Nói rồi truyền quân đem hết hình cụ tra khảo. Quân sĩ vâng lịnh mang ra nào kềm, nào kẹp, nào roi, vồ nọc v.v… Lưu Khuê Bích xem thấy kinh hồn lạc phách, run rẩy nói:
- Thưa phu nhơn, tôi mang quân đến đây chỉ vì mạng Thiên tử chớ không phải tự ý riêng đâu, xin phu nhơn và Đạ vương lượng xét cho tôi nhờ.
Vừa nói, Lưu Khuê Bích vừa lạy lia lịa, Vệ Dõng Đạt nghiêm giọng:
- Tên gian tặc này hiểm ác vô song, nếu không tra tấn nó thì nó không khai đâu.
Nói rồi truyền quân đóng nọc căng Lưu Khuê Bích. Quân sĩ vâng lịnh, đứa nắm đầu, đứa nắm chân, kéo người Lưu Khuê Bích căng ra nằm thườn thượt giữa sân.
Lưu Khuê Bích sợ quá chết điếng đi một hồi, rồi mếu máo năn nỉ xin mở dây ra đặng khai.
Vệ Dõng Đạt truyền quân tháo dây cho Khuê Bích ngồi dậy. Khuê Bích thú thật hết mọi việc, nào là âm mưu phóng hỏa Tiểu Xuân đình, nào là tư thơ cho cha nhờ âm mưu hãm hại Hoàng Phủ Nguyên soái v.v…
Vệ Dõng Đạt nghe xong, truyền quân đem bút mực đến cho Khuê Bích tự tay viết thành tờ cung trạng. Khuê Bích cực chẳng đã phải viết hết mọi việc, không dám giấu giếm tí nào. Vệ Dõng Đạt còn buộc Khuê Bích phải lăn tay vào tờ cung trạng nữa mới bằng lòng.
Tờ cung trạng làm xong, Vệ Dõng Đạt cười gằn hỏi:
- Mi cố tình hãm hại nhà Hoàng Phủ Nguyên soái để cướp mối lương duyên họ Mạnh, nhưng kết quả mi có được gì không?
Khuê Bích thở dài, đáp:
- Chỉ vì họ Mạnh mà làm cho tôi bị gian nan cực khổ muôn phần.
Rồi Khuê Bích thuật hết mọi việc lại và chỉ cái sẹo trên trán mình, nói:
- Nàng Mạnh Lệ Quân dùng dao cố sát tôi, may tôi tránh né khỏi, chỉ trúng vào trán này mang sẹo mà thôi, nếu không thì bỏ mạng rồi còn đâu!
Doãn Phu nhơn nghe Khuê Bích nói Mạnh Lệ Quân giấu dao trong mình hành thích Khuê Bích rồi nhảy xuống Côn Minh trì tự vận rồi; đau xót vô cùng liền khóc òa lên, nói:
- Cảm thương thay cho Mạnh Lệ Quân, một trang hiền đức, chỉ vì nhà ta mà nàng phải thủ tiết liều mình. Ôi! Ta đau khổ biết dường nào!
Vệ Dõng Đạt và Trưởng Hoa Tiểu thơ cũng không ngăn được giọt lệ, cả hai đều sụt sùi, nói:
- Mạnh Lệ Quân giữ dạ trung thành với nhà Hoàng Phủ như vậy thật đáng kính trọng và xót thương vô cùng!
Khóc than một hồi rồi Doãn Phu nhơn chỉ vào mặt Lưu Khuê Bích mắng:
- Tên ác ôn kia! Chính mi đã giết mất một đứa dâu hiền của ta rồi, mi có biết không? Tội ác của mi đã dẫy đầy, ta không đủ can đảm nhìn thấy mặt mi nữa.
Nói rồi truyền quân đem Khuê Bích giam vào ngục tối.

TOP

Chương 27

Lương Thừa tướng gieo cầu chọn rể quí,
Tô Yến Tuyết quyết giữ tấm lòng trinh.



Liên Đăng sai quân đi dọ thám, biết Lưu Khuê Bích chỉ bị giam cầm chứ không đến nỗi nguy hại đến tánh mạng, nên yên trí rút quân về, thuật hết mọi việc cho vua Thành Tôn nghe và trách Lưu Khuê Bích vì không nghe qua lời can gián của mình nên mới trúng nhằm mưu kế.
Vua Thành Tôn nghe qua nửa sợ nửa giận, còn Lưu Tiệp thì khóc ròng, vập đầu trước bệ tâu:
- Bởi tiện nhi hết lòng vì nước nên bị bắt, xin bệ hạ kíp sai một viên thượng tướng đem binh đến để cứu hắn và bắt hết bọn Vệ Dõng Đạt cùng Doãn Phu nhơn đem về kinh hành quyết cho rồi!
Vua Thành Tôn gật đầu phán:
- Phải đấy, bọn cường khấu này dám cả gan bắt Lưu Quốc cựu là một vị mạng quan của triều đình, ta phải phát binh đi tiễu trừ gấp mới được.
Vua Thành Tôn vừa dứt lời, xảy thấy hữu Thừa tướng là Kỳ Thạnh Đức và Lương Giám bước ra quì tâu:
- Xin bệ hạ chớ vội phát binh đi đánh Xuy Đài sơn, vì hiện nay giặc Phiên đang đánh phá Đăng Châu gắt lắm, quan Trấn Uy là Dương Bỉnh Nghĩa đã bị luôn mấy trận, nếu bây giờ ta cử binh đi đánh Xuy Đài sơn, thế nào Vệ Dõng Đạt túng thế phải đầu hàng binh Phiên. Bấy giờ ta phải đương đầu với hai thứ giặc: nội chiến lẫn ngoại xâm thì bất lợi cho ta lắm.
Vua Thành Tôn nói:
- Hai khanh nói cũng có lý, song nay Lưu Quốc cựu bị bắt, không biết rồi đây sống thác lẽ nào, nếu không cứu gấp, làm sao trẫm an tâm được?
Hai vị Thừa tướng đồng tâu:
- Hiện nay vợ con Hoàng Phủ Kính có mặt tại Xuy Đài sơn, nếu Vệ Dõng Đạt có ra tay sát hại Lưu Quốc cựu sẽ có hai người ấy cản ngăn, chắc không hề chi đâu, xin bệ hạ chớ lo ngại.
Vua Thành Tôn nghe nói chí lý, liền quay qua nói với Lưu Tiệp:
- Quốc trượng hãy yên chí, đợi khi nào dẹp xong giặc Phiên, trẫm sẽ phát binh đi cứu Quốc cựu về cho.
Lưu Tiệp lòng đầy lo ngại, nhưng bất đắc dĩ phải vâng lời.
Rồi vua Thành Tôn tuyên bố bãi chầu, các quan ai về dinh nấy.
Lúc ấy Lệ Minh Đường hay tin Lưu Khuê Bích bị bắt nên lòng lo ngại, vì hiện thời Doãn Phu nhơn đang có mặt ở Xuy Đài sơn, nếu triều đình cử đại binh đến thì nguy tai, lại có hại cho Hoàng Phủ Thiếu Hoa sau này. Vinh Phát trông thấy Lệ Minh Đường lộ vẻ lo âu nên lên tiếng khuyên giải:
- Tiểu thơ chớ nên lo lắng lắm mà hao tổn tinh thần, vì lẽ mọi việc ở đời đều do sự xếp đặt của hóa công, vậy nên bổn phận của tiểu thơ ngày ngày là nên lập chí cầu cho được công danh, mới hòng gỡ được nỗi oan tình trước kia.
Lệ Minh Đường nghe lời can gián phải lẽ, nên cũng nguôi bớt nỗi ưu phiền.
Ngày kia, nhằm ngày mười sáu tháng hai, vua Thành Tôn lâm triều, có quan Lễ bộ Thượng thơ là Khổng Thông bước ra quì tâu:
- Năm nay đã đến kỳ hội thi, hiện cử tử bốn phương đã tề tựu về kinh đông lắm, vậy xin bệ hạ hãy chọn khảo quan đặng mở hội.
Vua Thành Tôn vội cử quan hữu Thừa tướng là Lương Giám làm chủ khảo còn quan Lễ bộ Thị lang là Văn Minh Viễn làm phó chủ khảo.
Hai người lãnh chỉ tạ ơn lui ra. Lương Giám về nhà thuật lại với vợ là Cảnh Phu nhơn:
- Vừa rồi, Thánh thượng giao phó tôi làm chánh chủ khảo khoa thi hội năm nay.
Cảnh Phu nhơn nghe nói mừng lắm, Tố Hoa cũng chạy ra chúc mừng, rồi truyền cho gia nhơn sửa soạn hành trang đặng cho Lương Giám cùng với khảo quan khác đến trường thi.
Nhắc qua Lệ Minh Đường cùng vào thi hội kỳ này. Khi treo bảng, thấy Lệ Minh Đường đỗ Giải nguyên, còn Ngô Đạo Am thì đỗ hạng ba mươi ba.
Thấy mình được đỗ cao, Lệ Minh Đường nghĩ thầm: