Chào mừng bạn đến với KST !
Bạn chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy bạn chỉ có thể xem các bài viết mà không thể gửi bài trả lời, đặt câu hỏi hoặc tham gia nhiều hoạt động khác trên diễn đàn.
Hãy đăng ký thành viên tại đây, hoàn toàn nhanh chóng, đơn giản và miễn phí.
Chúc bạn một ngày làm việc thành công và tìm được nhiều thông tin bổ ích tại KST!
In chủ đề Gửi bài trả lời mới

Tình Sử Mạnh Lệ Quân - Mộng Bình Sơn

Chương 11

Bành Như Trạch vu cáo hại trung lương
Doãn Thượng Khanh thông tin cứu gia quyến.



Thần Võ Đạo Nhơn bắt được Hoàng Phủ Kính và Vệ Hoán rồi, liền hạ lịnh thâu binh trở lại.
Ô Tất Khải nói:
- Đã đắc thắng như vậy sao Quân sư không xua binh đuổi theo giết cho tận tuyệt địch quân, lại thâu binh về làm gì mà vội thế?
Thần Võ Đạo nhơn mỉm cười nói:
- Ta chỉ cần bắt cho được Hoàng Phủ Kính và Vệ Hoán là hai tướng lợi hại mà thôi, chứ còn chúng quân ấy như cỏ rác, giết chúng làm gì?
Ô Tất Khải nghe nói khen phải rồi truyền quân sĩ dẫn Hoàng Phủ Kính và Vệ Hoán vào. Quân sĩ vâng lệnh ra lôi hai người vào ngay. Ô Tất Khải vừa trông thấy mặt hai kẻ thù, lửa giận sôi gan như muốn ăn tươi nuốt sống, nhưng Hoàng Phủ Kính và Vệ Hoán vẫn đứng hiên ngang nhìn đối phương bằng đôi mắt ngạo nghễ.
Ô Tất Khải quát lớn:
- Hoàng Phủ Kính, hôm qua ngươi đâm ta một kích đến nay lòng giận vẫn chưa nguôi, sao hôm nay ngươi bị bắt đến trước mặt ta lại cả gan không chịu quì? Ngươi tưởng lưỡi gươm ta chặt đầu ngươi không đứt sao?
Hoàng Phủ Kính và Vệ Hoán, cả hai đều quay lại xoe tròn những cặp mắt nẩy lửa, nhìn thẳng vào mặt Ô Tất Khải lớn tiếng mắng:
- Loài cẩu đầu! Chúng ta đây đều là đường đường thượng tướng của thiên trào, há lại đi quì lụy bọn mao trùng chúng bây sao? Nay đã bắt được ta, hãy đem chém ta đi, chớ có nhiều lời vô ích.
Ô Tất Khải nghe mấy lời, lửa giận phừng gan, liền hô quân sĩ đem ra hạ sát. Thần Võ Đạo nhơn khoa tay cản lại rồi nói với Hoàng Phủ Kính:
- Hai ngươi đều là bậc anh hùng hào kiệt, cần phải thức thời, chớ sao lại chịu cam tâm chết như vầy? Chi bằng qui thuận chúa ta, ngôi công hầu khanh tướng không mất, chúng ta cùng nhau hưởng phú quí vinh hoa, chẳng phải hay hơn sao?
Bằng một giọng ngạo nghễ, Hoàng Phủ Kính đáp:
- Đời nào ta lại chịu đầu hàng quân khuyển mã chúng bay? Hãy giết ta đi, đừng dụ hàng ta vô ích.
Ô Tất Khải lại càng giận dữ hơn nữa, liền hối quân đi hạ sát cho khuất mắt.
Vệ Hoán gằn giọng nói:
- Loài cẩu đầu, muốn giết chúng ta thì cứ giết cần chi phải gầm thét thịnh nộ? Phàm cái chết đối với kẻ trượng phu có nghĩa gì đâu?
Nói rồi, hai người ung dung bước thẳng ra trước mũi thuyền, có ý chờ chết, sắc mặt không chút biến đổi.
Thần Võ Đạo nhơn thấy thế, nói với Ô Tất Khải:
- Hai người này quả là tay võ dõng trên đời ít có, lại có khí phách anh hùng, nếu ta đem giết đi thì uổng quá. Chi bằng giải hết về Vương thành giam cầm đày đọa cho khổ sở, lâu ngày chầy tháng chịu không nổi phải qui hàng. Nếu hai người này mà về tay ta rồi, tất nhiên tình hình Nguyên trào ta biết hết, lại có người nội ứng thì muốn tóm thâu thiên hạ nhà Nguyên có khó gì?
Ô Tất Khải nói:
- Nếu được như vậy thì còn gì quí bằng, nhưng nếu chúng nhất quyết không chịu đầu hàng thì sao?
- Việc ấy Nguyên soái chớ lo. Một lẽ là đày đọa cho chúng khổ sở, một lẽ đối đãi rất tử tế, bề nào cũng thành công, nếu ta biết kiên trì chinh phục.
Nguyên soái Ô Tất Khải ngẫm nghĩ hồi lâu rồi khen lời bàn của Quân sư là chi lý, vội truyền quân mở trói cho hai người, đoạn bỏ vào tù xa áp giải về Vương thành.
Đường về kinh đô Phiên quốc xa ngàn dặm, quân giải sai chi làm tiền hậu đội, gươm giáo sáng ngời, yểm hộ tù xa vô cùng cẩn mật.
Hoàng Phủ Kính buồn rầu, ngồi trong tù xa, đêm ngày cứ nghĩ thầm:
“Nếu vợ con ta hay tin ta bị bắt rồi, chắc là buồn thảm vô cùng”.
Nghĩ đến đây, Hoàng Phủ Kính chợt mơ màng trông thấy một vị tiên nữ hiện đến mách bảo:
- Hoàng Phủ Kính, ta đây là Thần Hải nữ thấy ngươi có lòng trung nghĩa nên đến đây mách bảo cho ngươi biết rằng mạng số của ngươi phải bị mắc nạn ba năm, rồi sau đó con của ngươi đem binh đến cứu về triều. Đến lúc ấy gia đình mới được đoàn viên và hưởng phú quí đời đời. Ngươi cần phải bền chí kiên tâm, giữ vững lòng trung liệt, chớ nên sơ thất.
Hoàng Phủ Kính muốn lên tiếng hỏi, nhưng tiếng trống điểm canh vang lên làm giựt mình thức dậy, mới rõ là điềm chiêm bao.
Hoàng Phủ Kính lấy làm lạ, thuật lại cho Vệ Hoán nghe, Vệ Hoán nói:
- Cứ theo điềm thần tiên mách bảo, thì chắc sau này công tử và tiểu thơ sẽ cử binh đến cứu về.
Hoàng Phủ Kính lại nói:
- Chiêm bao mộng mị đã chắc gì là đúng, nhưng chúng ta là tôi trung thành vì nước, dù không ai mách bảo luôn luôn giữ lòng son sắt, há lại đi thay lòng đổi dạ sao?
Vệ Hoán khen phải. Từ đó hai người giữ tấm lòng son, tuy bị cực khổ mà không nao núng, chỉ trông mong đến ngày binh trào đình đến cứu thôi.
Nói về Tuần phủ Sơn Đông là Bành Như Trạch thấy Hoàng Phủ Kính và Vệ Hoán bị bắt rồi, bèn y theo kế Lưu Tiệp, lập tức dâng sớ về kinh vu cáo:
- Nay Hoàng Phủ Kính và Vệ Hoán đã đầu hàng quân giặc, dẫn đường cho giặc đến đánh phá Đăng Châu, tình thế mười phần nguy ngập.
Bành Như Trạch lại viết riêng một phong thư sai người tâm phúc báo tin cho Lưu Tiệp biết rằng mưu kết ấy mình đã thi hành.
Bữa ấy, vua Thành Tôn lâm triều tiếp đặng biểu văn xem xong, mặt mày biến sắc, bèn truyền nội giám trao biểu văn cho quan Trực nhựt học sĩ đọc to lên cho triều thần đồng nghe. Lúc ấy các vị trung thần nghe qua vô cùng ngờ vực, họ không thể tin được Hoàng Phủ Kính là một vị trung thần lại anh hùng nghĩa khí, hôm nay dù có sa cơ bị địch bắt thì thà người chịu chết chứ bao giờ lại chịu đầu hàng địch để liên lụy đến vợ con? Việc này chắc là quan Tuần phủ Sơn Đông âm mưu hại người rồi.
Vua Thành Tôn nghiêm giọng phán:
- Hoàng Phủ Kính thọ ơn triều đình lâu nay mà bỗng dưng lại đem lòng phản trắc đã đầu hàng quân giặc lại rước giặc về đánh phá thành trì, thật cái tội ấy khó dung.
Lưu Tiệp tiếp được mật thư của Bành Như Trạc trước đây mấy ngày nên biết trước rồi, nay nghe vua phán như vậy cũng làm ra bộ ngạc nhiên rồi bước ra quì tâu:
- Muôn tâu bệ hạ! Chỉ vì hạ thần trước kia đã tiến cử Hoàng Phủ Kính cho nên ngày nay mới sanh ra cớ sự như vầy. Xin bệ hạ giao cho triều thần nghị phạt hạ thần để răn người tiến cử bậy. Còn như cái tội của Hoàng Phủ Kính và Vệ Hoán đây thì xin bệ hạ hãy truyền bắt hết gia quyến của hai người đem về kinh hành phạt để làm gương cho kẻ khác.
Vua Thành Tôn phán:
- Quốc trượng tiến cử Hoàng Phủ Kính chỉ vì hết lòng với trẫm mà thôi, nếu đem trị tội Quốc trượng thì sau này ai dám ra tiến cử nữa? Vả chăng Hoàng Phủ Kính làm đến quan đại thần hưởng ơn vua lộc nước bấy lâu mà nay lại phản bội thì tội ấy đáng trừng trị cả toàn gia, còn Vệ Hoãn kia vốn là tên vô danh tiểu tướng cũng không nên hành phạt vợ con hắn làm chi.
Vua Thành Tôn phát dứt lời, lập tức truyền lệnh ch quan Hình bộ phải qua Giang Lăng đặng bắt cho hết toàn gia Hoàng Phủ Kính dẫn ngay về triều.
Quan Hình bộ quì tâu:
- Nay Đăng Châu đang lúc nguy cấp, xin thánh thượng hãy chọn tướng ra ngăn địch trước đã rồi hãy lo đi bắt gia quyến họ Hoàng.
Thành Tôn khen phải rồi giao cho quan Binh bộ lo triệu tập chư tướng tuyển người giỏi đi dẹp giặc. Quan Binh bộ vâng lịnh tuyển quan Trấn uy Đại tướng Dương Bỉnh Nghĩa.
Dương Bỉnh Nghĩa lãnh nhiệm vụ, vào quì trước kim giai, vua Thành Tôn hạ chỉ phong cho Bỉnh Nghĩa làm Đại Nguyên soái, thống lãnh ba muôn binh mã sang Đăng Châu ngăn địch.
Lúc bấy giờ trong triều đình có auan ngự sử Doãn Thượng Thanh tức là anh vợ của Hoàng Phủ Kính khi biết được tin ấy, trong lòng kinh hãi. Lúc bãi triều lật đật về thuật lại cho vợ là Trình Phu nhơn và con gái là Lan Đài nghe. Trình Phu nhơn nghe nói liều khuyên Doãn Thượng Khanh phải báo tin cho Doãn Phu nhơn biết đặng trốn thoát.
Doãn Thượng Khanh y lời, vội viết thư rồi cho gọi tên gia đinh tâm phúc vào bảo:
- Ngươi hãy lãnh thư này lập tức thẳng đến Giang Lăng báo thi cho Doãn Phu nhơn và Hoàng Phủ Công tử hay rằng: triều đình đã nghe lời gian thần nghi cho Hoàng Phủ Nguyên soái đầu hàng địch, nên chỉ sớm tối đây triều đình sẽ sai quân đến bắt cả gia quyến về kinh trị tội. Nhất thiết phu nhơn phải dắt công tử và tiểu thơ đi trốn gấp, kẻo Khâm sai đến thì tánh mạng khó bảo toàn.
Doãn Thượng Khanh còn căn dặn tên gia đinh:
- Còn ngươi đến đó nói xong phải lui ra ngoài gấp, tìm nơi trú ngụ, đợi cho khâm sai đến xem công việc ra thế nào rồi sẽ về báo tin cho ta biết.
Doãn Quí vâng lời vừa bước chân ra, thì Thượng Khanh lại gọi giật trở lại dặn thêm:
- Ngươi nên nhớ rằng khi đến đó báo tinh xong rồi phải lập tức lui ra, chớ nên nghỉ ngơi trong gia đình Hoàng Phủ mà mang hại, nghĩa là Khâm sai đến có thể tưởng ngươi là người nhà của Hoàng Phủ bắt luôn đi, tánh mạng ngươi đã không còn mà ta cũng bị liên lụy.
Doãn Quí vâng lời, lui ra tung mình lên ngựa phóng nước đại. Hắn đi suốt ngày đêm, nên chẳng bao lâu đã đến Hồ Quảng rồi tìm đường thẳng đến Gia Lăng và dinh Hoàng Phủ.
Doãn Quí cột ngựa một cách hấp tấp rồi chạy thẳng vào trong. Doãn Phu nhơn trông thấy người vào nhà vẻ mặt hơ hải, lấy làm ngạc nhiên hỏi vội:
- Chẳng hay có việc chi khẩn cấp lắm mà ngươi đến đây ra dáng hoảng hốt như vậy?
Doãn Quí bước tới toan nói, nhưng lại thấy phía sau Doãn Phu nhơn có ba bốn con tì nữ nên ngập ngừng rồi nín đi. Doãn Phu nhơn như hiểu ý, liền bảo mấy con tì nữa ra ngoài hết rồi gạn hỏi:
- Có điều chi ngươi cứ viêc nói thẳng ra đi.
Doãn Quí ngó xung quanh không thấy ai cả nên từ từ nói:
- Bẩm Phu nhơn, trước đây Hoàng Phủ Nguyên soái phụng chỉ đi đánh giặc, chẳng dè bị địch quân dùng yêu thuật bắt đặng Nguyên soái và tướng Tiên phong đem về giam cầm. Nay triều đình lại theo lời sàm tấu của bọn gian thần nghi cho Nguyên soái tạo phản đầu hàng quân địch và dẫn đường cho quân địch về đánh Đăng Châu! Vì vậy, triều đình đã sai quân đi bắt hết gia quyến của Nguyên soái dẫn về kinh gia hình, nên lão gia sai tôi cấp tốc đến đây bảo phu nhơn hãy mau mau dắt công tử và tiểu thơ đi trốn tránh kẻo Khâm sai đến đây ắt không toàn tánh mạng.
Doãn Quí vừa nói vửa thò tay vào lưng lấy một phong thư có bao sáp bên ngoài dâng lên cho phu nhơn và thưa:
- Lão gia tôi có gởi cho phu nhơn một bức thư đây, nhưng vì người sợ lậu sự nên bọc vào trong viên sáp này, xin phu nhơn hãy bóc ra xem thì rõ việc kiết hung.
Doãn Phu nhơn tiếp lấy rồi bảo Thiếu Hoa hãy lấy dao xẻ bao sáp ra. Hai mẹ con đồng xem một lượt. Xem xong Doãn Phu nhơn tủi lòng rơi lụy dầm dề. Hoàng Phủ Thiếu Hoa cũng sụt sùi nói với mẹ:
- Con thiết tưởng thân phụ con rủi có sa cơ bị bắt cũng không khi nào đầu hàng giặc để lụy cho gia quyến bao giờ, việc này chắc Lưu Tiệp nó a tùng cùng quan Tuần phủ Sơn Đông, xúi bảo hắn dâng biểu về kinh vu tấu, hãm hại gia quyến nhà ta để trả thù riêng đây.
Trưởng Hoa Tiểu thơ cũng thở dài than:
- Nếu đã xảy ra cớ sự như vầy thì nhà ta phải điêu tàn tan nát.
Doãn Quí nói:
- Khi tôi vừa mới đi ra, chính lão gia tôi cũng tiên đoánh như vậy, người có dặn tiểu thơ và công tử chớ nên khóc lóc, vì khóc lóc thì sự việc tiết lậu ra ngoài khó nỗi đào sanh, riêng tôi đây, người dặn khi đến nơi báo tin rồi phải lập tức tìm nhà trú ngụ đặng dọ nghe tin tức tình hình thế nào để về thưa lại cho người hay. Vậy xin phu nhơn hãy viết hồi thư đặng tôi lãnh lấy đi tìm nhà trú ngụ.
Trưởng Hoa tiểu thơ khen phải, quay qua nói với Hoàng Phủ Thiếu Hoa:
- Hiền đệ hãy vào lấy năm chục lượng bạc và bưng chiếc đèn đến đây.
Doãn Phu nhơn nghe Trưởng Hoa bảo em như vậy, lấy làm lạ liền hỏi:
- Con bảo em nó đem đèn lửa ra làm chi vậy?
Trưởng Hoa Tiểu thơ thưa:
- Con định đốt bức thư này kẻo để lậu ra liên lụy đến cậu con.
Doãn Phu nhơn nói:
- Hãy chầm chậm cũng được chứ đốt làm gì vội thế?
Trưởng Hoa tiểu thơ thưa:
- Bức thư này vô cùng quan hệ, rủi sa vào tay Khâm sai thì chắc chắn tánh mạng cậu con không thể nào bảo toàn, vậy xin hãy đốt phứt nó bây giờ thì hay hơn, lại khỏi sợ di lụy về sau.
Doãn Phu nhơn nói:
- Con giải phân thật chí lý, thôi con hãy đốt đi.
Doãn Phu nhơn nói vừa dứt lời thì Hoàng Phủ Thiếu Hoa đã đem năm chục lượng bạc và lửa ra. Trưởng Hoa liền lấy bức thư đốt cháy rồi gọi Doãn Quí lại bảo:
- Bây giờ ta cũng muốn viết thư trả lời cho cậu ta hay, nhưng ta sợ việc này rủi tiết lậu ra gây họa cho cậu ta, nên ta không viết tiện hơn. Còn năm chục lượng bạc đây ta cho ngươi, vậy hãy cất lấy đặng ra tìm mướn nhà ngụ đỡ vài ngày rồi sẽ về.
Doãn Quí vâng lời lãnh số bạc cột vào lưng bái tạ, lui ra tìm nhà mướn ở.
Khi Doãn Quí đi rồi, phu nhơn nói với hai con:
- Việc này tuy là do Lưu Tiệp tư thù lập mưu rửa hận, nhưng dù sao đã có thánh chỉ của triều đình, mà ta đây là một vị Mạng phụ của triều đình nên phải chịu chết cho tròn danh tiết, duy có hai con còn niên thiếu có liên quan gì đến triều đình nên phải mau mau tầm phương lánh nạn để cho họ Hoàng Phủ về sau khỏi bị thất tự.

TOP

Chương 12


Vâng lời mẹ, thầy trò lánh nguy,
Giữ lòng trung, mẹ con thọ tội.



Doãn Phu nhơn nói vừa dứt lời, Trưởng Hoa Tiểu thơ cũng ứng tiếng thưa:
- Hôm nay thân mẫu đã quyết chí vì triều đình cho trọn tiết, thì con cũng nguyện theo thân mẫu về kinh cùng chết cho tròn câu hiếu đạo.
Nghe con nói, Doãn Phu nhơn lấy làm cảm kích, nhưng bà lại nghiêm sắc mặt nói:
- Sách có câu “nữ sanh ngoại tộc”, con là thân gái tội gì phải làm như vậy?
Tiểu thơ thưa:
- Thân mẫu dạy như vậy cũng phải, song con đây tuy là phận gái mà chưa ra lấy chồng, chưa có thể gọi là ngoại nhơn được, vậy con nguyện theo cùng thân mẫu cho tròn chữ hiếu, xin thân mẫu chớ nên cản trở, duy chỉ có em con cần trốn tránh để ngày sau cho còn người hương khói mà thôi.
Nghe mấy lời chị nói, Hoàng Phủ Thiếu Hoa khóc nức nở nói:
- Chị là thân gái còn biết theo thân mẫu để tròn chữ hiếu, huống chi em đây đấng mày râu chẳng lẽ không biết hiếu nghĩa là gì sao? Thế thì em nhất quyết theo thân mẫu và chị về kinh để cùng chết luôn thể.
Doãn Phu nhơn thấy con trai mình phân bì với chị như vậy, liền nghiêm sắc mặt, gằn giọng nói:
- Thiếu Hoa, cha mẹ đây chỉ sanh vỏn vẹn một mình con là trai, nếu con không biết nghĩ sâu xa thì ngày sau dòng họ Hoàng Phủ đành chịu tuyệt tự sao? Nếu nay con chết đi, tức là trốn tránh nhiệm vụ trọng đại về sau, người đời sẽ cười chê rằng mẹ đây không biết dạy con. Nay mẹ đã bảo con như vậy mà con không nghe thì mẹ không muốn sống thêm một giờ phút nào nữa cả.
Doãn Phu nhơn nói dứt lời liền đứng phắt dậy toan đập đầu vào cột tự vẫn. Trưởng Hoa Tiểu thơ trông thấy thất kinh, vội nhảy tới ôm mẹ lại, vừa khóc vừa nói:
- Xin thân mẫu bớt cơn nóng giận, hai chị em con bao giờ cũng vâng theo lời thân mẫu.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa cũng vội quỳ xuống khóc lóc và năn nỉ:
- Thân mẫu ôi, chẳng phải con dám trái ý thân mẫu đâu, chỉ vì con trốn tránh cầu lấy sự sống trong lúc thân mẫu thọ hình, lòng con không đành đó thôi.
Trưởng Hoa liền buông mẹ ra, bước tới đở em dậy mà nói:
- Hiền đệ nói như thế sai rồi, vì việc này là do nơi Lưu Tiệp âm mưu hãm hại cho tận tuyệt cả nhà ta. Nếu em đến đó cùng chết, chỉ uổng thân mà thôi chớ chẳng ai khen. Vả lại, nếu em đi trốn thế nào triều đình cũng giam mẹ lại, đợi khi nào truy tầm bắt được em sẽ khai đao một lượt, biết đâu trong thời gian ấy có thể địch quân đến đánh phá, triều đình phải treo bảng cầu hiền. Chừng ấy em sẽ đổi tên họ ra ứng thí đi dẹp giặc lập công và cứu thân phụ ta về. Thế là em đã tròn chữ trung mà trả được chữ hiếu, có phải là lưỡng toàn không? Ngược lại, nay em đành chịu chết đã không cứu đặng cha mẹ lại làm cho dòng họ Hoàng Phủ ta vô nhơn kế tự, miệng đời cười chê, lại làm cho bọn gian thần thỏa mãn tấm lòng ghen ghét, em hãy suy sâu nghĩ kỹ lại.
Trưởng Hoa nói dứt lời, Doãn Phu nhơn nhìn thẳng vào mặt Thiếu Hoa, nói:
- Chị con nói vậy, con nghĩ sao?
Hoàng Phủ Thiếu Hoa gạt lệ thưa:
- Nay thân mẫu đã dạy vậy, con xin vâng lời.
Doãn Phu nhơn gật đầu khen:
- Ừ, có như vậy mới là con chí hiếu chứ!
Trưởng Hoa lại nói:
- Nay em con ra đi trốn tránh, thế nào triều đình cũng họa hình tạc tượng treo dán khắp nơi cho thiên hạ tìm bắt, vậy mẫu thân phải tìm nơi nào chí thiết để gởi gắm em con, chứ để hắn bạ đâu trốn đó, tánh mạng khó bảo toàn.
Doãn Phu nhơn suy nghĩ hồi lâu rồi nói:
- Con nói rất chí lý, mẹ muốn Thiếu Hoa nó sang ẩn bên nhà họ Mạnh, nhưng mẹ lại sợ Lưu Khuê Bích hay được thì khốn. Ngoài nhà họ Mạnh ra, mẹ không tìm thấy chỗ nào chí thiết nữa cả.
Trưởng Hoa thở dài:
- Thế thì biết liệu sao đây?
Bỗng dưng Doãn Phu nhơn tươi hẳn nét mặt lên nói:
- À, mẹ nhớ ra rồi. Còn một chỗ thân thiết có thể ẩn náu được mà mẹ quên lửng đi mất.
- Chỗ nào vậy hở mẫu thân?
- Nguyên Tổ mẫu nhà ta có một người cháu tên Phạm Hữu tự là Nhơn An quê ở tại Võ Xương. Người này tức anh em cô cậu với thân phụ con, nên con gọi là biểu thúc đó. Trước đây mười năm mẹ ông ta tạ thế, gia đình quá nghèo túng nên có đến nương náu với thân phụ con. Ông ta ở với thân phụ con hơn một năm, tánh tình rất thuần lương lại siêng năng cần mẫn nên thân phụ con lo cưới vợ cho, đồng thời cho ông ngàn lượng bạc để sanh phương buôn bán. Về sau, nghe đâu ông ta phát tài giàu lắm, có đem số bạc trả lại, nhưng thân phụ con không thâu mà cho nốt. Bây giờ ông ta sanh được năm người con, lại là một người biết trọng nhân nghĩa, con hãy tìm đến đó nương náu với người, thế nào cũng được an thân.
Trưởng Hoa nghe nói, vô cùng mừng rỡ:
- Được chỗ này thật là may cho em con lắm. Nhưng thuở bé đến giờ em con chưa từng đi xa, nay phải vượt quãng đường muôn dặm như vậy con lấy làm lo ngại. Con muốn chọn một tên gia nhơn nào tâm phúc để cùng đi với hắn mới được.
Doãn Phu nhơn gật đầu.
- Phải đấy, hiện nhà ta có tên lão bộc Lữ Trung nguyên là tên thơ đồng của tổ phụ khi xưa. Lão ta là kẻ trung thành, lại biết mặt Phạm Hữu nữa, nên cho đi với Thiếu Hoa là tiện lắm.
Dứt lời, Doãn Phu nhơn vội sai nữ tì đi kêu Lữ Trung đến ngay. Lữ Trung vái chào phu nhơn và hỏi:
- Chẳng hay phu nhơn cho gọi tôi có chuyện gì?
Doãn Phu nhơn mời lão Lữ Trung ngồi xuống ghế rồi từ từ thuật hết đầu đuôi sự việc cho lão nghe, nào là việc Hoàng Nguyên soái phụng chỉ đi đánh quân Phiên bị chúng bắt giữ, nào là bị gian thần sàm tấu khiến gia quyến hôm nay phải bị hành hình, may nhờ Doãn Thượng Khanh tin cho biết trước.
Rồi phu nhơn nghiêm giọng nói:
- Dù sao tôi cũng đứng ra chịu chết để tròn trung hiếu, duy có Thiếu Hoa con trai tôi cần phải sống để sau này hương khói cho dòng họ Hoàng Phủ và cứu lấy thân phụ hắn về triều, nhưng vì việc trốn tránh của hắn hiện nay vô cùng nguy hiểm, cần phải có người tâm phúc theo phò trợ. Xét ra ngươi là kẻ đã ở với nhà ta mấy mươi năm trời, xem như người thân thuộc, nên ta giao phó cho ngươi bảo hộ công tử lên đường. Còn phần gia quyến của ngươi, ta sẽ chu cấp tiền nong để tìm chỗ nương thân, ngươi nghĩ sao?
Lữ Trung nghe nói, lòng xúc động, rơi lụy dầm dề. Lão chắp tay thưa:
- Kẻ tôi tớ này trộm nghĩ: Lão gia đường đường một vị anh hùng hào kiệt chỉ có lòng trung chứ không có lòng phản quốc, nay dù có bị địch bắt đi nữa, đời nào lại chịu đầu hàng! Sự việc như vậy kẻ ngu này cũng biết, chắc chắn Lưu Tiệp đã âm mưu hãm hại nguời ngay. Vậy tôi đây lâu nay cậy nhờ cơm áo nhà này nuôi sống cả vợ con, ơn nghĩa ấy ví bằng non biển, nay gặp cơn nguy biến, dầu có hy sinh tấm thân già này cũng cam, nhưng tôi thiết nghĩ phu nhơn cùng tiểu thơ cũng nên cùng trốn đi luôn thể chứ về Kinh chịu chết thật tôi không đành dạ.
Doãn Phu nhơn ôn tồn giải thích:
- Người có lòng thương tưởng đến ta, thật ta vô cùng cảm kích, nhưng ta đây là một vị Mạng phụ của triều đình nên phải cam đành tử tiết, còn tiểu thơ đây cũng vì chữ hiếu mà tình nguyện theo ta, cũng không có lý do gì có thể cản ngăn được. Duy chỉ có công tử là cần phải trốn đi, vì hắn còn mang lấy trách nhiệm trọng đại về sau này, ngươi hãy bảo hộ công tử cho tận tình thì dù ta có chết cũng không bao giờ quên ơn ngươi.
Lữ Trung sụt sùi nói:
- Đến đỗi phu nhơn và tiểu thơ còn không kể gì tánh mạng nữa thay, huống hồ tôi đây dù có nhảy vào nước sôi lửa bỏng cũng quyết chẳng từ nan, nhưng chẳng hay phu nhơn định bảo tôi đưa công tử đi đâu?
Doãn Phu nhơn nói:
- Muốn cho tánh mạng Thiếu Hoa được bảo toàn, ta suy cùng nghĩ cạn chỉ thấy có một mình Phạm Hữu là có thể đến tá tức được mà thôi, chẳng biết ngươi nghĩ sao?
Lữ Trung gật đầu đáp:
- Phạm Hữu vốn người tử tế, hơn nữa va đã thọ ơn của lão gia rất trọng, nay đem công tử qua đó là phải lắm.
Sau đó, Trưởng Hoa vào trong lo thu xếp hành trang cho em mình, còn Lữ Trung cũng về nói lại cho vợ con nghe.
Vợ Lữ Trung là Tưởng thị cùng hai con là Lữ Phước và Lữ Đức đều cho việc cha mình đi theo phò công tử lánh nạn là phải, nhưng khi xếp đặt hành trang xong, tiễn biệt Lữ Trung, vợ và con không khỏi sa nước mắt.
Chỉ trong chốc lát, Lữ Trung đã ứng trực, Trưởng Hoa Tiểu thơ đem ra một gói rất nhiều vàng bạc châu báu và nói:
- Trên bước đường muôn dặm nguy nan, hai người phải lo gìn giữ của quí này để chi dụng cho qua ngày.
Lữ Trung và Thiếu Hoa nhận lãnh rồi đi ăn cơm, thay y phục giả dạng người buôn bán đợi đến tối lên đường.
Trước khi lên đường, Thiếu Hoa cúi lạy mẹ và chị, chàng nức nở nói:
- Biết ai thấu cho sự đau đớn trước cảnh biệt ly này! Chẳng biết rồi đây mẹ con ta có thể trùng phùng tái hội không?
Nói rồi chàng khóc rống lên, Doãn Phu nhơn và Trưởng Hoa Tiểu thơ cũng phải khóc theo. Tiểu thơ cố gắng ngậm lệ cất tiếng khuyên em:
- Hiền đệ hãy an tâm, nếu triều đình không bắt được hiền đệ tất nhiên mẹ và chị không hề chi đâu, mà chúng ta đã sống trên đời này không kíp thì chầy cũng có ngày gặp nhau.
Cực chẳng đã, Thiếu Hoa phải gạt lệ bái biệt, cùng Lữ Trung dắt nhau lên đường. Hoàn cảnh này ai trông thấy cũng như đứt từng đoạn ruột.
Khi Thiếu Hoa đi rồi, Trưởng Hoa thỏ thẻ với mẹ:
- Nay cửa nhà ta sắp tan nát, vậy bao nhiêu giấy nợ hoặc văn khế cầm cố điền sản của người ta cũng nên kêu họ đến cho họ làm phước, kẻo để Khâm sai đến, bọn phủ huyện sẽ bách sách người ta tội nghiệp.
Doãn Phu nhơn gật đầu khen phải rồi khiến gia nhơn tức tốc đi gọi các con nợ đến. Các con nợ nghe gọi ai ấy đều sợ sết lo lắng, nhưng khi đến nơi lại nghe phu nhơn nói:
- Các ngươi mắc nợ ta, nhưng xét nhà các ngươi cũng không lấy gì là dư dả lắm, nếu phải chạy trả sanh ra túng thiếu tội nghiệp. Vậy nay ta gọi các ngươi đến đây đặng trả lại các khế tờ vay mượn, nếu sau này có ai làm ăn khá giả thì trả cho ta, bằng túng thiếu thì ta cho luôn.
Sở dĩ phu nhơn nói vậy là vì muốn giấu nhẹm việc này, vì thế các con nợ mừng rỡ lãnh giấy ra về, không ai biết gia đình Hoàng Nguyên soái bị mắc nạn cả.
Sau đó, Trưởng Hoa lại nói với phu nhơn:
- Tài sản của nhà ta là do tổ tiên ta khai sáng chớ không phải do bàn tay của thân phụ con tạo lập, nếu để cho Khâm sai đến tịch biên sung công thì ức quá! Vậy thân mẫu hãy đem dâng hết cho chùa Huyền nữ thâu hoa lợi, nếu sau này gia đình ta bị tội thì thôi, bằng vô tội trở về thì chùa hoàn lại. Làm như vậy thế nào các thầy tăng cũng mừng rỡ và nhận lãnh ngay. Hơn nữa, tài sản ta cúng cho chùa rồi chắc cũng không ai mách cho Khâm sai làm gì, chẳng biết thân mẫu nghĩ sao?
Doãn Phu nhơn nói:
- Con nghĩ kế ấy hay lắm.
Rồi phu nhơn lập tức cho đi mời các thầy tăng đến bày tỏ ý định cho mấy thầy nghe, ai nấy đều vui lòng nhận lãnh. Phu nhơn bèn viết một văn tử cúng cho chùa, đề ngày thuộc về năm trước, còn các thầy tăng cũng lập một tờ quản nhận giao lại cho phu nhơn, hứa khi nào gia đình họ Hoàng Phủ vô tội, trở về sẽ trả lại.
Sáng hôm sau phu nhơn lại gọi hết gia đinh tì nữ trong nhà cho mỗi đứa một số tài sản, bảo đi về sanh phương lập nghiệp. Trong số bọn có hai con tì nữa của tiểu thơ là Cẩm Trạch và Giao Sắc không đành xa lìa chủ mình nên khóc lóc thưa:
- Hai đứa tôi nguyện theo hầu phu nhơn và tiểu thơ, dù có chết cũng thỏa dạ.
Doãn Phu nhơn thấy hai đứa chỉ trạc độ mười hai tuổi mà có nghĩa như vậy, cũng thuận tình cho theo.
Sau khi bạn bè và tôi tớ giải tán hết, Trưởng Hoa Tiểu thơ bèn đi lấy ba trăm lượng bạc trao cho vợ con Lữ Trung và bảo hãy về Nam Trang Biên tìm nơi trú ngụ nuôi sống qua ngày. Tưởng thị cùng hai con lãnh bạc rồi từ biệt ngay.
Lúc bấy giờ trong dinh Hoàng Phủ chỉ còn mẹ con Doãn thị và hai con nữ tì nhỏ xíu, ngày nào cũng trông đợi Khâm sai đến bắt.
Mãi đến tám ngày sau, thình lình thấy quan Khâm sai hiệp cùng quan địa phương đến vây phủ xung quanh nhà rồi bước vào lớn tiếng gọi Hoàng Phủ Thiếu Hoa ra tiếp chiếu.
Doãn Phu nhơn nghe gọi liền dắt hai đứa tì nữ bước ra nói:
- Cách đây mấy hôm, con tôi đã qua Sơn Đông đặng dọ tin tức cha nó nên hiện nay không có ở nhà.
Nói rồi phu nhơn bảo hai nữ tì dọn bàn hương án để bà tiếp chiếu. Khâm sai mở chiếu ra đọc một hồi rồi lập tức bắt phu nhơn và tiểu thơ trói lại, đoạn truyền quân lục soát hết trong nhà, nhưng Khâm sai không tìm thấy một người nào nữa cả.
Khâm sai vô cùng ngạc nhiên, hỏi Doãn Phu nhơn:
- Việc này chắc là bà biết trước rồi nên cho trốn đi cả phải không? Chứ lẽ nào trong phủ của một vị Nguyên soái lại chỉ có vỏn vẹn bốn người đàn bà?
Doãn Phu nhơn làm ra vẻ giận dữ đáp:
- Nếu tôi đã biết trước sao tôi lại còn bị bắt đây? Hơn nữa chồng tôi bậc anh hùng hào kiệt đã từng vào sanh ra tử, đánh Đông dẹp Bắc, xây đắp sơn hà, há lại đi đầu hàng quân địch sao? Việc này chắc chắn là do gian thần nó sàm tấu đặng hãm hại mẹ con tôi, thế mà chúng tôi đã tình nguyện chịu chết, các quan còn cật vấn làm gì nữa?
Quan Khâm sai không biết nói sao, đành phải làm thinh truyền cho một toán quân đi lùng bắt Thiếu Hoa, đồng thời truyền họa hình Thiếu Hoa dán khắp nẻo, nếu ai bắt được thì trọng thưởng.
Sau đó Khâm sai cho tịch biên hết nhà cửa họ Hoàn và bắt mẹ con Trưởng Hoa đem nhốt tại huyện, chỉ cho hai con nữ tì của phu nhơn được phép ra vào hầu hạ mà thôi.
Quan Khâm sai ở đó đợi mãi hai ngày sau mà quân sĩ không tìm bắt được Thiếu hoa nên túng thế phải bắt Doãn Phu nhơn cùng Trưởng Hoa bỏ vào tù xa, giải về kinh.
Bây giờ xin nhắc qua Hoàng Phủ Thiếu Hoa cùng Lữ Trung. Khi hai người ra khỏi nhà lại gọi nhau bằng chú cháu ruột cho thiên hạ khỏi hiềm nghi. Ngày kia, hai người qua một cánh đồng rộng mênh mông, thình lình tuyết phủ xuống trắng xóa, gió thổi lạnh tím ruột, nhưng cả hai vẫn cố gắng chịu lạnh đạp tuyết đi cho đến chạng vạng mà vẫn không trông thấy một cái nhà nhỏ nào để nghỉ chân.
Hai người co ra trong chiếc áo mỏng, bước đi khấp khểnh. Thiếu Hoa run lẩy bẩy, vừa đi vừa ngâm lên bốn câu:
“Chiêu đệ hành thoàn thử lộ điêu.
“Đoạn trường minh nhựt đoạn minh triều.
“Giang minh cựu trạch võ nhơn tảo.
“Tuyết đáo xuân hồi thủy đắc tiêu.
Thiếu Hoa ngâm vừa dứt bỗng thấy Lữ Trung ngã huỵch xuống nói trong tiếng rên rỉ:
- Thà đói còn chịu được chứ lạnh đến nước này chắc tôi cóng quá, không tài nào bước nổi nữa.
Thiếu Hoa bước tới đỡ lão dậy, thoa tay chân cho lão, đoạn chàng nhìn xa xa rồi mừng rỡ reo lên:
- Kìa, trước kia có thấp thoáng ánh đèn sáng, chắc chỗ ấy có xóm nhà, vậy chúng ta hãy ráng đến đó nghỉ nhờ một đêm rồi mai sẽ đi nữa.
Lão già Lữ Trung nghe nói, mừng rỡ gắng gượng đứng dậy, khập khễnh bước đi. Đến nơi, quả nhiên dưới lùm cây rậm rạp có một xóm nhà độ sáu bảy chục nóc gia, nhưng lúc ấy đã khuya rổi, nhà nhà đều đóng cửa kín mít, chỉ có một cái nhà phía trước treo đèn kết hoa và hình như người trong nhà còn thức nên thỉnh thoảng vọng ra tiếng cười nói.

TOP

Chương 13

Mến người trung, Hùng Hiệu ra tay bảo bọc,
Ham sắc đẹp, Đan Hồng bắt gái ép duyên



Ngôi nhà này là của một nhà cự phú tên Hùng Hiệu, tự là Hữu Hạc, Hùng Hiệu cha mẹ chết sớm để lại một gia tài kếch sù, nhưng tánh y trọng nghĩa khinh tài thường hay giúp đỡ kẻ nghèo khó. Vợ là Từ thị tánh tình cũng hiền lương nên ai ai cũng đều mến phục.
Hùng Hiệu năm nay trạc độ hai mươi mốt tuổi, vóc người ta lớn, võ nghệ cao cường, văn chương cũng giỏi, nước da bánh mật, đôi mắt sáng như sao, biểu lộ sự thông minh hơn người. Năm trước, Hùng Hiệu thi đỗ võ cử, nhưng khi tiến kinh thi hội rủi bị hỏng, đành phải trởi về vui thú điền viên.
Vợ chồng Hùng Hiệu hiền lành phúc đức, nhưng ăn ở với nhau đã mấy năm dư vẫn chưa có con. Hôm nay Từ thị ăn lễ sanh nhựt, nên bà con thấn quyến đến chúc mừng trong ngoài chật ních. Khi tiệc mãn, khách vừa ra về, gia nhơn toan đóng cửa thì Thiếu Hoa và Lữ Trung vừa bước vào.
Thiếu Hoa chắp tay xá người ấy và thưa:
- Chú cháu tôi đi lỡ đường, lại gặp tuyết rơi lạnh lẽo, xin người làm phước cho chúng tôi nghỉ nhờ một đêm.
Tên gia nhơn nhìn chòng chọc Thiếu Hoa hồi lâu rồi nói:
- Các ngươi là khách lỡ đường, sao không thấy mang đồ đạc gì hết thì ai dám chứa?
Thiếu Hoa lên tiếng cầu khẩn:
- Chỉ vì chúng tôi đi đường xa nên không mang gánh theo được, xin người làm ơn cho tôi trú ngụ đỡ một đêm rồi bao nhiêu tiền sáng mai tôi xin dâng đủ số.
Tên gia nhơn nổi giận nộ nạt:
- Không thể được! Tôn ông nhà nầy là bậc giàu có, tiền của dinh dư có bao giờ biết lấy tiền của ai? Nếu muốn thuê nhà nghỉ hãy đi nhà khác.
Tên gia nhơn nói bằng giọng gay gắt, bỗng bên trong có người lên tiếng hỏi:
- Sao đến bây giờ chúng bây không đi ngủ, còn cãi lẫy với ai đó?
Người ấy lễ phép thưa:
- Bẩm lão gia, có hai người lạ mặt xin vào ngủ nhờ, tôi không biết rõ ngay gian nên không cho, họ cứ nài nỉ mãi.
Hùng Hiệu nghe nói vội bước ra, Thiếu Hoa trông thấy Hùng Hiệu tướng mạo hiền hòa, liền cúi chào và lễ phép thưa:
- Chỉ vì gia thúc tôi tuổi già sức yếu không đủ sức chịu nổi với khí trời lạnh lẽo mà bây giờ đã khuya quá, các nhà khác đều đóng cửa ngủ yên, nên tôi mới cố nài nỉ xin nghỉ nhờ ở đây, chẳng dè làm kinh động đến tôn ông, xin tôn ông vui lòng tha thứ!
Hùng Hiệu đứng nhìn Hoàng Phủ Thiếu Hoa một hồi rồi ôn tồn đáp:
- Kẻ gia đinh tôi là hạng quê kệch nên buông lời lỗ mãng, xin người chớ chấp nện hắn làm gì. Mời hai ông bước vào trong rồi chúng ta đàm luận.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa và Lữ Trung mừng rỡ, liền bước theo Hùng Hiệu. Bước vào một căn phòng sang trọng, Hùng Hiệu lễ phép mời hai người ngồi rồi ôn tồn hỏi:
- Chẳng hay nhị vị quên quán ở đâu, quí tánh đại danh là gì, xin vui lòng bày tỏ cho tôi biết với.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa đáp:
- Thưa tôn ông, tôi tên Lữ Lăng, còn gia thúc tôi đây tên Lữ Trung, quê ở Giang Lăng. Chú cháu tôi đi thăm người bà con, rủi đến đây gặp trời tối lại tuyết xuống lạnh lẽo, nếu không nghỉ được nơi đây thì thật là bơ vơ không biết nương tựa vào đâu được!
Hùng Hiệu lại hỏi:
- Xin lỗi nhị vị, xin nhị vị hãy tha thứ cho câu hỏi quá đường đột của tôi vì tôi tin chắc nhị vị ở Giang Lăng thế nào cũng hiểu rõ sự việc của Hoàng Phủ Nguyên soái, nhị vị hãy thuật lại đầu đuôi việc Nguyên soái đầu hàng địch thế nào và hiện giờ Hoàng Phủ Thiếu Hoa phiêu bạc nơi đâu?
Hoàng Phủ Thiếu Hoa nghe hỏi thất kinh, chàng lúng túng hồi lâu mới đáp:
- Chúng tôi đây là kẻ quê mùa mộc mạc không đời nào dám bước chân đến nhà bậc quan gia thành thử không rõ gì cả, mặc dù chúng tôi cùng ở một chỗ với Nguyên soái.
Hùng Hiệu rót rượu mời hai người uống và tự giới thiệu:
- Cái làng này là Tuấn Ngạn thôn, thuộc huyện Bình Giang, còn tôi đây là Hùng Hiệu, tự là Hữu Hạc. Trước kia đã thi đỗ Võ Cử nhơn, nhưng sau thi hội bị thất bại phải trở về. Tôi được thừa hưởng di sản của tổ phụ nên đã lập tâm đem của ấy giúp đỡ cho những người gặp cơn hoạn nạn. Tôi có nghe Hoàng Phủ Nguyên soái tuổi còn nhỏ đã thi đỗ Trạng nguyên lại bao phen bình giặc Phiên, quả là một vị anh hùng hào kiệt, nhưng vừa rồi lại thấy Khâm sai họa hình Hoàng Phủ Công tử dán khắp nơi đặng tìm bắt, tôi lấy làm lạ lắm và thiết nghĩ Hoàng Phủ Nguyên soái là bậc anh hùng dù có bị giặc bắt há lại đi đầu hàng sao? Nhất định việc này có thể là do quan địa phương dọ thám không kỹ rồi đặt điều tầm bậy, vu oan cho người ta, thật đáng thương, đáng tiếc!
Ngừng một lát, Hùng Hiệu tiếp:
- Tôi ước gì được Hoàng Phủ Công tử đến đây cùng tôi hiệp đi đánh Phiên đặng cứu lấy tánh mạng Hoàng Phủ Nguyên soái về cho người trung lương thoát vòng oan khổ, tôi mới vừa lòng.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa nghe Hùng Hiệu nói bấy nhiêu lời vô cùng xúc động, chàng không thể giữ được trạng thái bình thường, chàng sa nước mắt.
Hùng Hiệu nói:
- Tôi thấy ngài tướng mạo khôi ngô lại giống hệt hình vẽ Hoàng Phủ Công tử! Bây giờ lại thấy ngài động lòng rơi lụy thì quả nhiên là Hoàng Phủ Công tử rồi, sao ngài nỡ giấu tôi? Nếu quả vậy xin ngài cứ tỏ thật, không có điều gì bất trắc đâu mà sợ; tôi quyết tâm giúp Hoàng gia đó.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa thổn thức một hồi rồi cúi thưa:
- Tiểu đệ đây chính là Hoàng Phủ Thiếu Hoa vì xét thấy ngài có lòng thương tưởng nên mới tỏ thật tình.
Hùng Hiệu nghe nói mừng rỡ, vội bước tới nắm tay Thiếu Hoa ra chiều quyến luyến và nói:
- Hôm nay tình cờ gặp công tử đây quả là một điều may mắn, chính là do trời xui khiến đấy!
Lúc bấy giờ nỗi vui mừng của hai người không kể sao cho xiết, cả hai đều ngồi cạnh nhau dùng trà đàm đạo. Một lát sau gia nhân bưng rượu thịt lên, Hùng Hiệu khiến dọn riêng một mâm cho Lữ Trung còn một mâm để cho mình cùng ăn uống với Thiếu Hoa.
Rượu được vài tuần, Hùng Hiệu nói với Thiếu Hoa:
- Chẳng hay vì nguyên do nào mà lịnh đường phải mang tai họa như vậy?
Thiếu Hoa thuật lại việc tranh hôn của Lưu Khuê Bích và việc Lưu Tiệp tiến cử cha mình đi đánh quân Phiên mới sanh ra cớ sự ngày nay, chàng còn đoán chắc việc này là do Lưu Tiệp mạo tấu.
Ngừng một lát, Thiếu Hoa tiếp:
- Vì vậy mà tôi phải tìm đến nhà thân thích để nương dựa rồi sau này sẽ thay tên đổi họ ra đầu quân đi đánh quân thù cứu thân phụ tôi về triều cho tròn trung hiếu.
Hùng Hiệu nghe rõ đầu đuôi, vô cùng căm tức tên gian thần Lưu Tiệp, chàng nói:
- Chỉ có những kẻ bất lương mới có thể binh con làm xằng như vậy, hành động bất nhân ấy có ngày phải đền tội.
Rồi hai người bắt đầu thảo luận đến việc võ nghệ binh thơ, mới biết cả hai đều là tay văn võ toàn tài, Hùng Hiệu nức tiếng khen:
- Công tử tài ba như vậy quả đáng mặt là con nhà danh tướng.
Hai người càng chuyện vãn, càng cảm thấy tâm đầu ý hiệp, Hoàng Phủ Thiếu Hoa nói:
- Nay em đây là kẻ có tội, nên sáng mai đây em phải lên đường sớm kẻo các quan địa phương hay được thì lụy đến hiền huynh.
Hùng Hiệu nói:
- Hiện nay quan quân đi dọ tìm công tử rất ngặt, vả lại tướng mạo công tử rất khôi ngô, dung nghi khác hơn người thường thật dễ nhìn, nếu công tử ra đường thì trốn tránh sao cho khỏi trăm ngàn con mắt cú vọ? Chi bằng công tử hãy ở luôn tại đây, một nơi vắng vẻ xa thị thành, chẳng phải tiện hơn sao?
Hoàng Phủ Thiếu Hoa nói:
- Em vô cùng cảm phục trước tấm lòng tốt của hiền huynh, song em chỉ sợ rủi ro bại lộ sẽ bị liên lụy đến quí quyến thì lòng em không đành. Hơn nữa, vừa rồi em đã xin ngủ nhờ ở đây một đêm mà bây giờ lại ở luôn, tất nhiên gia nhơn sẽ nghi kỵ.
Hùng Hiệu mỉm cười đáp:
- Việc ấy không khó chi.
Nói rồi Hùng Hiệu kề tai nói nhỏ với Thiếu Hoa và lên tiếng căn dặn:
- Công tử cứ việc làm y theo kế ấy sẽ giấu nhẹm được bọn gia nhơn của tôi.
Cơm nước xong, Hùng Hiệu sai gia nhơn đưa Hoàng Phủ Thiếu Hoa và Lữ Trung vào phòng nghỉ ngơi. Khi cửa phòng đã đóng, Lữ Trung nói nhỏ với Thiếu Hoa:
- Đường đi còn xa xôi diệu vợi, nếu công tử còn tính việc đi nữa, tôi e bất tiện lắm, vả chăng Hùng Hiệu là người tử tế chân thật lại có lòng quyến luyến công tử, vậy nên ở lại đây thì hay hơn.
Thiếu Hoa gật đầu:
- Ta cũng dự định như vậy.
Sáng hôm sau Hùng Hiệu gọi gia nhơn sửa soạn cơm ăn sáng. Rượu được vài tuần, Thiếu Hoa nói:
- Số phần của đệ vô cùng vất vả lại không có anh em gì cả nên đệ muốn cùng hiền huynh kết làm sanh tử chi giao để sau này rủi ro gặp hoạn nạn cùng tương cứu, phú quí cùng chung hưởng, chẳng biết ý hiền huynh nghĩ sao?
Hùng Hiệu nghe nói mừng rỡ đồng ý ngay, vội khiến gia nhơn bày bàn hương án cùng với Thiếu Hoa vái trời tuyên thệ. Hùng Hiệu hai mươi mốt tuổi làm anh, Hoàng Phủ Thiếu Hoa mới mười sáu tuổi nên làm em. Sau đó, Hùng Hiệu gọi vợ mình là Từ thị ra chào mừng Thiếu Hoa. Từ đó bọn gia nhơn của Hùng Hiệu đều yên trí cho rằng tên Lữ Lăng này là em ông chủ của mình chứ không biết Thiếu Hoa nào cả.
Hùng Hiệu thấy Lữ Trung là người chơn chất thành thật, lại biết đọc biết viết tính toán thông thạo, nên đem việc nhà giao cho Lữ Trung quản trị. Từ đó tuy Hoàng Phủ Thiếu Hoa cũng có nơi ăn chốn ở song ngày đem trong lòng vẫn áy náy chẳng yên, vì không biết Doãn Phu nhơn và Trưởng Hoa Tiểu thơ bị bắt về kinh tánh mạng sẽ ra thế nào? Hùng Hiệu biết ý liền sai người đến kinh đô dọ nghe tin tức, đồng thời cũng cho người qua Sơn Đông để ngóng tình hình Hoàng Phủ Nguyên soái nữa.
Nói về quan Khâm sai bắt Doãn Phu nhơn và Trưởng Hoa Tiểu thơ giải về kinh, khi đi ngang qua núi Xuy Đài thuộc tỉnh Sơn Đông, xảy gặp một toán lâu la mai phục, cầm đầu trong bọn có tên Đan Hồng, cỡi ngựa hồng câu, tay cầm giáo.
Đang Hồng nhìn xa xa trông thấy toán quân giải hai người đàn bà đi tới, chẳng những Trưởng Hoa Tiểu thơ có nhan sắc xinh đẹp mà thôi, Doãn Phu nhơn tuổi ngoài năm mươi mà dung nhan cũng còn mỹ lệ, Đan Hồng bè quay lại nói nhỏ với lâu la:
- Ta vừa thấy phía trước kia có một toán quân giải hai người đàn bà rất xinh đẹp trông giống hai mẹ con. Chúng bây hãy mai phục im lặng, chờ cho chúng đến sát hãy ào ra một lượt bắt hai người ấy cho ta.
Trong bọn lâu la có mấy đứa cười khúc khích nói:
- Mới hôm trước đây Tân vương có hạ lịnh hễ ai bắt đàn bà con gái thì bị chém, còn ai gian dâm đàn bà, con gái thì bị lột da, tại sao hôm nay tướng quân lại bảo chúng tôi làm vậy, không sợ Tân Vương lột da sao?
Đan Hồng nói:
- Ta thấy Đại vương năm nay tuổi đang độ xuân xanh làm gì đêm thanh canh vắng lại không buồn? Nên ta tính bắt người con gái đẹp kia đem về cho Đại vương làm áp trại phu nhơn, còn người đàn bà có tuổi kia ta dùng làm vợ. Chúng bây nghĩ coi xử sự như vậy làm gì Đại vương không đẹp lòng.
Chúng lâu la nghe nói cả mừng, quyết ý làm theo lệnh của tướng Đan Hồng.
Khi tù xa vừa đẩy tới, thình lình hai bên rừng tiếng trống đánh liên thanh, rồi bọn lâu la ó lên một lượt vang trời dậy đất, gươmg giáo sáng ngời, đổ xô ra ngăn cản lại. Đan Hồng giục ngựa phóng tới nạt lớn:
- Quan quân nào đây? Hãy nạp cho đủ ba lạng bạc về tiền mãi lộ rồi mới được phép đi qua, bằng không lại chớ mong sống sót.
Khâm sai nghe nói nổi giận lướt tới chỉ vào mặt Đan Hồng hét to như sấm nổ:
- Chúng bây là quân thảo khấu nào lại dám cả gan đến đây nạp mạng?
Nói rồi truyền quân sĩ phải canh phòng từ xa cẩn mật, đoạn rút kiếm ra khỏi vỏ nhìn thẳng vào mặt đối phương gằn giọng:
- Kìa bọn cường đồ. Chúng bây có ăn cước cũng phải điều tra cho cẩn thận chứ sao lại mù quáng như vậy? Ta tin cho bây biết ta đây chính là Khâm sai phụng mạng triều đình đi bắt gia quyến phản nghịch giải về kinh trị tội, tiền bạc đâu có mà chúng bây đòi hỏi. Thôi, hãy tranh đường ra cho ta đi, chớ nên ngăn cản.
Đan Hồng cười gằn nói:
- Nếu người không có tiền của thì phải để tù xa lại đây rồi mau mau về kinh tâu với triều đình đem tiền đến chuộc tù phạm trở lại.
Khâm sai nghe nói càng nổi giận xung thiên, xoe tròn đôi mắt nẩy lửa hét:
- Tên khốn kiếp kia hãy xem ngọn kiếm của ta đây.
Nói dứt lời, liền vung kiếm nhắm ngay đầu Đan Hồng chém tới. Đan Hồng cũng cử giáo gạt ra rồi hai người đánh vùi với nhau. Nguyên quan Khâm sai này là quan văn chưa từng giao phong lần nào thì làm sao có thể chống cự với Đan Hồng là tay võ tướng. Vì vậy chỉ được vài hiệp đao pháp của Khâm sai đã bị bấn loạn, rồi chỉ trong nháy mắt đã bị Đan Hồng cho một giáo té nhào xuống ngựa chết tốt.
Bọn lính giải sai thấy chủ mình chết rồi, hoảng kinh bò tù xa chạy hết. Đan Hồng khiến lâu la đẩy tù xa lên núi, đồng thời thâu đoạt được vàng bạc châu báu rất nhiều.
Khi đẩy tù xa lên được lưng chừng núi, Đan Hồng lại khiến lâu la mở tù xa tháo xiềng cho Doãn Phu nhơn và Trưởng Hoa Tiểu thơ. Doãn Phu nhơn thấy vậy nghiêm sắc mặt hét:
- Đây là hình cụ của triều đình sao chúng bây dám cả gan xâm phạm đến?
Đan Hồng cười ha hả đáp:
- Sao các ngươi lại nói vậy? Ta đã ra sức giết Khâm sai cứu tử cho, các ngươi đáng lẽ mang ơn ta mới phải, sao lại tỏ vẻ bất bình?
Doãn Phu nhơn và Trưởng Hoa Tiểu thơ đồng thanh nói:
- Ngươi đã ra tay giết chết Khâm sai là người của triều đình, tất nhiên triều đình nghi kỵ ngươi là kẻ tâm phúc của ta, lại càng làm khó dễ cho ta không làm sao giải được nỗi oan ức. Thôi ngươi hãy mau mau thả chúng ta ra, để chúng ta tình nguyện vê Kinh chịu chết chứ quyết không chịu ở đây mà mang tiếng phản nghịch đâu.
Bọn lâu la không thèm đếm xỉa gì đến lời nói của Doãn Phu nhơn, cứ việc lùa vào tù xa rồi đẩy tuốt lên núi:
Khi đến nơi, Đan Hồng bước vào Tụ nghĩa đường quì tâu với Đại vương: - Hôm nay tôi vừa dắt lâu la xuống núi, bỗng gặp quan Khâm sai giải hai mẹ con một người đàn bà đi ngang qua, tôi đã giết chết Khâm sai và bắt cả hai đem về đây, xin Đại vương định đoạt.
Vị Đại vương cau mày nói:
- Sao chúng bay lại nhiều chuyện thế? Vả chăng, quan Khâm sai là kẻ vâng mạng của triều đình đi thi hành công sự mà giết chết người ta làm gì? Còn ngươi bắt hai mẹ con người đàn bà ấy về đây có ích lợi gì cho chúng ta đâu?
Đan Hồng thưa:
- Chỉ vì hai người đàn bà ấy nhan sắc tuyệt vời, nhất là nàng con gái lại có nhan sắc trầm ngư lạc nhạn, nên tôi muốn đem nàng ấy dâng cho Đại vương dùng làm áp trại phu nhơn, còn người đàn bà có tuổi kia xin Đại vương cho tôi đem về làm vợ. Tôi thiết nghĩ làm như vậy đã cứu được cái chết của hai người mà cả tôi và Đại vương đều được vợ cả, chẳng phải tiện hơn sao?
Đại vương nghe qua chúm chím cười, nói:
- Nếu ngươi lấy mẹ, ta lại lấy con, thì ngươi đương nhiên là cha vợ của ta, thì coi sao cho được?
Đan Hồng nói:
- Tôi chỉ cầu mong Đại vương cho phép tôi được vợ là quí lắm rồi tôi đâu dám nghĩ đến việc làm cha Đại vương, xin Đại vương chớ nói đến điều ấy tội nghiệp.
Đại vương nói:
- Thôi hãy gác việc ấy lại đã, ngươi ra dắt hai người đàn bà ấy vào đây cho ta hỏi đặng xem thế nào rồi sẽ liệu.
Đan Hồng nghe nói mừng rỡ vội vàng chạy ra hối lâu la dẫn hết hai mẹ con Doãn Phu nhơn và hai con nữ tỳ vào. Hai con nữ tỳ sợ hãi run lẩy bẩy, vừa vào đến nơi đã vội quì xuống, chỉ có Doãn Phu nhơn và Trưởng Hoa Tiểu thơ vẫn đứng thẳng người và quay mặt nhìn ra ngoài.
Vị Đại vương ngồi trên cao nghi6m giọng nói:
- Tại sao hai người đã vào trước mặt ta lại không thi lễ?
Bằng giọng cao ngạo, Doãn Phu nhơn nói:
- Tôi có thể thi lễ đối với viên Tuần tư mà không đời nào chịu khuất phục một vị Đại vương nào cả.
Đại vương nghe nói, chúm chím cười:
- Sao lạ vậy? Chẳng lẽ ta đây không bằng một viên Tuần tư sao?
Doãn Phu nhơn giải thích:
- Viên Tuần tư tuy chức nhỏ song là mạng quan của triều đình, còn Đại vương tuy lớn nhưng là một kẻ phản nghịch, đời nào ta lại chịu khuất phục?
Vị Đại vương suy nghĩ hồi lâu rồi gật đầu:
- Ngươi phân như vậy cũng phải lẽ, nhưng ta muốn biết chồng của nhà ngươi làm quan đến chức chi, phạm tội như thế nào mà gia quyến phải bị bắt giải về Kinh? Người cứ việc tỏ thật đi rồi ta sẽ liệu.
Doãn Phu nhơn bèn đem hết sự tình kể lại cho vị Đại vương ấy nghe và xin tha đặng về kinh bó tay chịu chết.
Nghe xong, bỗng Đại vương ấy mặt mày tươi vui, ôn tồn bảo:
- Thì ra phu nhơn là vợ của Hoàng Phủ Nguyên soái mà tôi không biết, thật đáng trách. Trước kia đã mấy lần tôi nghe danh Hoàng Phủ Nguyên soái đi bình an Phiên tặc, lập nhiều công lao to tát, nay rủi sa cơ lẽ nào lại đầu hàng quân giặc? Tôi tin chắc việc này do bọn gian thần trong triều mạo tấu, tuy vậy nay bà quyết thủ tiết cũng phải, nhưng lịnh ái là nữ sanh ngoại tộc, sao bà nỡ để liên lụy như vậy?
Doãn Phu nhơn nói:
- Chỉ vì tiện nữ của tôi chưa xuất giá nên vẫn còn xem như người trong nhà, thành thử hắn nguyện theo tôi cùng chết cho tròn chữ hiếu.
Đại vương nghe qua gật gù bảo:
- Thế thì lịnh ái quả là bậc hiền tử hiếu thảo ít ai bì. Còn việc giết khâm sai hôm nay chắc chắn bọn gian thần nó sẽ vu cáo cho tôi là bè đảng của Nguyên soái, nếu như phu nhơn và tiểu thơ về kinh thì mười phần bị chết oan uổng chớ không mong gì minh oan được. Tôi cũng xin tỏ thật cho phu nhơn biết, tôi chẳng phải là bọn lục lâm cường đạo xuất thân mà là con nhà lương thiện họ Vệ tên Dõng Đạt, cha tôi làm quan đến chức Ngự sử ở tại kinh, tôi ở nhà coi việc điền viên và lo tập tành võ nghệ. Chẳng may cha tôi bị đứa gian thần dèm pha nên triều đình bắt đi cống bên Phiên quốc chưa về, trong cuộc hành trình vô cùng nguy hiểm ấy không biết sống thác ra thế nào nên tôi tính cùng một người lão bộc ra đi dò la tin tức thân phụ, chẳng dè đi ngang qua núi Xuy Đài này lại gặp tướng giặc trên núi là Hàn Hổ chận đàng đoạt hành lý, tôi nổi giận đâm chết. Lúc ấy bọn lâu la phục tài võ nghệ của tôi nên năn nỉ tôi ở lại cầm đầu chúng nó. Tôi lại nghĩ cũng cần ở lại để chiêu tập binh mã kéo đi cứu lấy phụ thân về triều thi hay hơn, nên tôi thuận tình ở lại chốn này, chứ kỳ thực tôi không có ý định làm nghề lục lâm.
Ngừng một lát, vị Đại vương tiếp:
- Nay tôi muốn tỏ cùng phu nhơn một lời, vả tôi năm nay tuổi đã mười bảy còn tiểu thơ đây cũng chưa gá duyên cầm sắt, chẳng biết có phải trời xui đất khiến đôi lứa gặp gỡ nơi đây chăng. Vậy xin phu nhơn hãy vui lòng gả tiểu thơ cho tôi rồi phu nhơn cũng ở luôn tại đây, đợi lúc nào triều đình đăng bảng cầu hiền để chọn người ra dẹp giặc, chừng ấy chúng ta sẽ đem nhau xuống ứng nghĩa, trước là đi cứu Nguyên soái về, sau lập chút công danh, chẳng biết phu nhơn nghĩ sao?
Nãy giờ Doãn Phu nhơn cùng Trưởng Hoa Tiểu thơ đứng cúi gầm mặt xuống không thèm nhìn mặt vị Đại vương; bấy giờ nghe qua mấy lời, cả hai điều liếc nhìn lên trông thấy Vệ Dõng Đạt diện mạo đoan trang, mày ngài, mắt sáng như sao, nước da trắng như tuyết, mười phần đẹp đẽ. Doãn Phu nhơn giật mình nghĩ thầm:
“Nếu người này là con gái thì dung nhan kia sánh với con gái ta cũng chẳng hơn kém nhau bao nhiêu, thế thì đúng là con nhà quan gia rồi”.

TOP

Chương 14


Vệ Dõng Đạt bái nhận mẫu tử
Hùng Hữu Hạc quyết chí tầm sư.



Liếc thấy dung mạo Vệ Dõng Đạt, Doãn Phu nhơn nghĩ thầm:
“Vị Đại vương này tướng mạo khôi ngô, dung nghi mỹ lệ, thế nào về sau cũng đặng đại quí. Nếu đặng đẹp duyên cùng con gái ta thì thật là xứng đôi vừa lứa”.
Trưởng Hoa Tiểu thơ t hấy mẹ mình ra vẻ suy nghĩ, sợ bà ta nhận lời chàng, nên vội vói nắm vạt áo bà kéo qua một bên, kề tai nói nhỏ:
- Con quyết không bao giờ bằng lòng kết duyên với tên lục lâm ấy đâu!
Doãn Phu nhơn khẽ hỏi:
- Ta xem nguời nầy là hạng quan gia tử đệ, lại có dung mạo phi phàm thì chắc làm gì sau này cũng đặng phú quí, vả lại, tuổi xuân của người thật xứng đôi vừa lứa với con. Nếu con bằng lòng chắc sau này người sẽ đem binh dẹp giặc cứu phụ thân con về triều chẳng là hay hơn sao?
Trưởng Hoa vẫn khư khư đáp:
- Xin mẫu thân đừng ép con, vì ý con đã quyết, thà chịu chết chứ không chịu kết duyên với tên võ phu!
Vệ Dõng Đạt liếc nhìn thái độ của hai người đoán biết tiểu thơ không bằng lòng nên mỉm cười dịu giọng nói:
- Chỉ vì dung nhan của tiểu thơ mà khiến con tim tôi xao xuyến, sao tiểu thơ nỡ lòng nào để cho tôi thất vọng như vậy? Tiểu thơ hãy xét thử tôi đây cũng dòng quan gia tử đệ xuất thân, lại thêm dung mạo không đến nỗi xấu xí, nay tôi cùng tiểu thơ sánh duyên cầm sắt chẳng phải là xứng đôi vừa lứa lắm sao?
Trưởng Hoa lắc đầu đáp:
- Dẫu cho Đại vương là quan gia tử đệ mà đã sa vào chốn lục lâm này thì thanh danh đã bị hoen ố rồi, tôi đây tuy phận gái thà chịu chết cho tròn tiếng thơm chớ không bao giờ chịu sống nhục.
Vệ Dõng Đạt cố biện minh:
- Tiểu thơ nghĩ vậy là lầm rồi! Tôi ở đây chẳng qua là tạm đỡ trong một thờigian để chiêu tập binh mã hòng ra giúp nước trở về với triều đình đó thôi.
Rồi Vệ Dõng Đạt quay qua nói với Doãn Phu nhơn:
- Xin mời phu nhơn và tiểu thơ lui vào hậu trại ngồi chơi để tôi thưa một chuyện.
Dứt lời, liền truyền lâu la đưa hai người vào hậu trại ngay, đồng thời truyền lâu la mổ heo để khao thưởng ba quân, ăn mừng lễ động phòng hoa chúc của mình.
Vào đến hậu trại, bọn lâu la bưng trà lên cung kính mời hai người uống, nhưng Trưởng Hoa đã nhứt quyết không ưng nên chịu khát chứ không dùng. Doãn Phu nhơn thấy thế tỏ lời khuyên bảo:
- Theo ý mẹ thì mẹ muốn con bằng lòng, vì việc này cũng là điều hay cho chúng ta.
Nhưng Doãn Phu nhơn nói gì Trưởng Hoa cũng vẫn một mực chối từ. Lúc hai mẹ con đang đàm luận thì Vệ Dõng Đạt bước vào ra hiệu cho bọn lâu la lui ra ngoài, rồi với tay đóng chặt cửa lại, đoạn nhìn Trưởng Hoa chúm chím cười ra chiều lả lơi và nói:
- Nay nhạc mẫu đã có lòng đoái thương đến tôi, ý muốn cho tôi đặng vầy duyên can lệ cùng tiểu thơ, cớ sao tiểu thơ lại đành tâm để cho tôi phải ôm mối tình tuyệt vọng?
Nghe qua mấy lời, Trưởng Hoa đánh giá ngay con người của Vệ Dõng Đạt là phường tham dâm háo sắc nên nàng kinh hãi vội bước lùi ra sau, vì nàng sợ đối phương có thể giở trò bất lương thô lỗ.
Vệ Dõng Đạt thấy thế liền rót một chén nước tự tay bưng đến cho tiểu thơ miệng cười chúm chím, liếc mắt đưa tình:
- Dẫu sao tiểu thơ cũng dùng của tôi một chung trà mới phải chứ.
Bấy giờ Trưởng Hoa mặt mày biến sắc, thối lùi mãi ra sau, đôi mắt nàng xạ ra ánh sáng hận thù, hai hàm răng nghiến chặt, lưng dựa vào tường, hai tay như muốn vận nội công thủ thế để tự bảo vệ bản thân.
Vệ Dõng Đạt vẫn lướt tới, bằng cái nhìn mớn trớn. Trưởng Hoa gằn giọng nói:
- Tôi đã mang một tấm lòng sắt đá, mong Đại vương đừng tiến thêm bước nữa vô ích, nếu Đại vương một mực ép liễu nài hoa thì tôi chắc chắn một trong hai ta sẽ bỏ mạng tại đây.
Trước lời nói đanh thép của nàng, khiến Vệ Dõng Đạt phải lùi lại đặt chén nước trên bàn, thong thả nói:
- Xin tiểu thơ đừng sợ, chính tôi đây cũng là hàng nữ lưu như tiểu thơ vậy, sở dĩ tôi làm như vậy là có ý muốn thử lòng tiểu thơ đó thôi.
Doãn Phu nhơn thấy Trưởng Hoa nổi giận, bà muốn chạy đến khuyên nhủ con, nhưng lại nghe Vệ Dõng Đạt nói vậy, bà lấy làm lạ vội hỏi:
- Đại vương nói thế nghĩa là gì? Sao Đại vương lại bảo Đại vương là gái?
Vệ Dõng Đạt không đáp, cứ việc âm thầm bước đến gài thêm cánh cửa cho thật chặt rồi lại ngồi trên ghế từ từ mở chiếc giày mình ra, tháo miếng vải bó chân, để lộ bàn chân nhỏ xíu. Mẹ con Doãn Phu nhơn nửa mừng nửa sợ vội hỏi:
- Người là con gái nhà ai, sao lại dám cả gan nương thân vào chốn lục lâm cường đạo như vầy?
- Vệ Dõng Đạt chỉ mỉm cười không đáp, cứ việc lo quấn vải vào chân rồi mang giày lại, đoạn mời Doãn Phu nhơn ngồi trên rồi cùng Trưởng Hoa Tiểu thơ ngồi dưới. Sau đó Vệ Dõng Đạt mới lên tiếng nói:
- Nguyên thân phụ tôi là Vệ Hoán, tướng tiên phong của Hoàng Phủ Nguyên soái, còn tôi đây tên thật là Dõng Nga. Thân phụ tôi chỉ có một mình tôi chớ không có trai kế tự nên dạy tôi học tập võ nghệ. Chỉ vì kế mẫu của tôi bất hòa với tôi, nên thân phụ tôi lúc thi đậu võ cử nhơn đi làm quan phương xa phải đem gởi tôi cho thúc phụ tôi là Vệ Trấn Tổ nuôi dưỡng. Vừa rồi, thân phụ tôi và Hoàng Phủ Nguyên soái bị giặc Phiên bắt giam cầm cho nên triều đình nghi kỵ sai quan đi bắt gia quyến Hoàng Phủ về kinh trị tội. Lúc ấy có một người bạn đồng niên với thân phụ tôi ở tại kinh mật báo cho thúc phụ tôi biết, thành thử thúc phụ tôi sợ liên lụy không dám chứa tôi nữa. Tôi thiết nghĩ thân phụ tôi là bậc trung can không đời nào chịu đầu hàng giặc, chắc chắn việc này do gian thần mạo tấu để hại người ngay nên tôi cải nam trang cùng với tên lão bộc là Vưu Thận định sang Đăng Châu để dò la tin tức, nhưng chẳng may khi đi ngang qua núi này, Vưu Thận bị Hàn Hổ đón giết chết đoạt đồ hành lý, tôi vừa đến thấy vậy nổi giận giết ngay Hàn Hổ. Bọn lâu la khâm phục tài võ dõng của tôi nên xúm nhau nài nỉ tôn tôi lên làm chủ trại.
Ngừng một lát, nàng tiếp:
- Tôi trộm nghĩ, ra đi đơn phương độc mã cũng không làm gì nên chuyện, nên tính ở lại đây chiêu tập binh mã chờ cơ hội mang quân đi cứu phụ thân về triều cho toàn trung hiếu. Nay tôi cùng tiểu thơ đây cùng chung một số phận, vậy hãy cùng nhau nương náu ở đây chờ cơ hội rửa cho sạch nỗi niềm oan khúc của thân phụ chúng ta.
Doãn Phu nhơn nghe bấy nhiêu lời, lòng mừng khấp khởi, nức tiếng khen:
- Ta không ngờ nàng là con gái lại có chí khí anh hùng như thế. Thiết tưởng trên thế gian này không có một người con gái nào lại dám nương thân vào nơi hổ huyệt như vầy, thật đáng kính phục!
Vệ Dõng Đạt nói:
- Đó chẳng qua là hoàn cảnh tạo nên, ngộ biến phải tùng quyền, xin phu nhơn chớ tiết lậu. Còn việc của phu nhơn, tôi cũng lấy làm lạ là sao phu nhơn đã biết trước mà không chịu trốn đi, còn để cho Khâm sai đến bắt là ý gì?
Doãn Phu nhơn liền đem việc Doạn Thượng Khanh cho hay tin trước, Hoàng Phủ Thiếu Hoa đã đi trốn rồi, còn mình và Trưởng Hoa bằng lòng về kinh thọ tội, đầu đuôi nói rõ cho Dõng Đạt nghe.
Vệ Dõng Đạt gật gù nói:
- Thế thì cái tiết tháo của phu nhơn cùng tiểu thơ thật hiếm có trên đời. Nhưng nay phu nhơn và tiểu thơ đã vào đây, hãy cùng tôi lập chí, chờ thời dẹp giặc, cứu cho được phụ thân chúng ta về triều, cho tròn câu cốt nhục thâm tình.
Doãn Phu nhơn ra vè lo ngại:
- Mẹ con tôi ở đây cũng được, nhưng hiện nay chúng lâu la đều đinh ninh nàng là nam tử thì sao cho khỏi tiếng thị phi chê cười?
Vệ Dõng Đạt nói:
- Việc ấy phu nhơn chớ lo, tôi sẽ có kế, tránh được tiếng thị phi.
Nói rồi Vệ Dõng Đạt kề tai nói nhỏ với phu nhơn một hồi rồi lên tiếng nói:
- Phu nhơn cứ việc làm y theo kế ấy thì không ai có thể hiềm nghi chúng ta được.
Doãn Phu nhơn gật đầu khen:
- Ờ! Thật quả là diệu kế.
Vệ Dõng Đạt cũng mỉm cười nói với Trưởng Hoa Tiểu thơ:
- Cô nương là người cương trực thật ít ai bì, đã rủi sa vào hang hùm nọc rắn mà vẫn giữ một lòng thiết thạch, đáng khâm phục thay!
Câu chuyện của ba người vừa đến đây thì bên ngoài bọn lâu la đã sửa soạn bàn hương án xong xuôi, chúng chờ đợi chủ trại ra để làm lễ động phòng hoa chúc, nhưng đợi mãi không thấy. Một đứa trong bọn nóng lòng lên tiếng nói:
- Đại vương ta thật là nôn nóng quá. Chưa làm lễ mà đã đóng cửa với nàng ấy ở miết trong phòng, chắc hai người thành thân với nhau rồi chớ gì.
Một tên khác nói:
- Sao anh lại nói lạ vậy? Tâm lý ở đời hễ trai tài gái sắc gặp nhau thì ai không vậy? Thôi, bây giờ chúng ta phải đi bẩm tấu Đại Vương kẻo trễ ngày giờ mất.
Mấy tên kia đều khen phải rồi cùng nhau chạy vào phòng gõ cửa bẩm:
- Bẩm Đại vương, chúng tôi đã sửa soạn hương án xong rồi, xin Đại vương hãy ra làm lễ hoa chúc kẻo trễ giờ hoàng đạo.
Vệ Dõng Đạt nghe kêu liền mở cửa bước ra ngồi giữa tụ nghĩa đường, truyền lâu la gióng trống nhóm hết các đầu mục và lâu la đến đủ mặt, đoạn sai người đi mời Doãn Phu nhơn và Trưởng Hoa Tiểu thơ ra.
Một lát sao hai người đến, Vệ Dõng Đạt bước xuống thi lễ rồi mời Doãn Phu nhơn lên ngồi ghế trên, còn mình và Trưởng Hoa Tiểu thơ thì ngồi ngang nhau ở hai chiếc ghế phía dưới.
Vệ Dõng Đạt đứng lên trịnh trọng tuyên bố:
- Ta thấy Hoàng Phủ Tiểu thơ là một người có nhan sắc nên muốn kết nghĩa tấn tần nhưng nàng không thuận. Vả lại, ta đây cũng là hạng người đứng vào hàng quan gia tử đệ lại có tâm sự giống phu nhơn và tiểu thơ nên ta định cầm phu nhơn và tiểu thơ ở lại đây chờ cơ hội đi bình giặc, báo ơn cho Thiên tử. Nhưng hiện nay ta cùng tiểu thơ đang độ xuân xanh, nàng chỉ nhỏ hơn ta một tuổi, ta định làm lễ phát thệ nhận nàng làm em và phu nhơn làm mẹ ta để tránh khỏi sự hiềm nghi, chẳng hay ý chúng tướng nghĩ sao?
Các tướng đều khen và đồng thanh bẩm:
- Đại vương trọng nghĩa như vậy thiệt trong đời ít có.
Nhưng trong số có vài người cười thầm bàn tán với nhau:
“Một người đẹp như tiên mà không muốn, lại để kết làm anh em, thật là dại dột”.
Sau đó Vệ Dõng Đạt mời Doãn Phu nhơn cùng Trưởng Hoa Tiểu thơ ra giữa sân, nơi đã đặt bàn hương án sẵn sàng để làm lễ phát hệ.
Doãn Phu nhơn và Trưởng Hoa Tiểu thơ đồng nói:
- Đại vương hậu tình trọng đãi như vậy, chúng tôi vô cùng cảm kích, song phận mẹ con tôi tài sơ đức bạc, có xứng chi mà được hân hạnh kết tình máu mủ với Đại vương.
Vệ Dõng Đạt nói:
- Nếu không làm như vậy, làm sao tránh khỏi sự hiềm nghi, xin mẫu thân chớ nên chối từ.
Rồi cả ba đều bước ra sân, Vệ Dõng Đạt cùng Trưởng Hoa Tiểu thơ đồng bước tới bàn hương án cất tiếng thề nguyền kết nghĩa đệ huynh đoạn Vệ Dõng Đạt quì lạy Doãn Phu nhơn gọi bằng thân mẫu.
Lễ tuyên thệ vừa xong, Vệ Dõng Đạt truyền thiết tiệc khao thưởng quân sĩ và thưởng riêng phần Đan Hồng mười lượng vàng ròng. Đan Hồng mừng rỡ nhận lãnh rồi lại tạ lui ra, hắn nghĩ thầm:
“Số mình không đặng vợ đẹp nên Đại vương lại nhận là em gái, nhưng thôi, đành chịu chớ biết làm sao bây giờ?”
Tối hôm ấy, Vệ Dõng Đạt truyền lâu la đưa Doãn Phu nhơn và Trưởng Hoa Tiểu thơ vào nghỉ nơi hậu trại, lại bảo hai con tỳ nữ Cẩm Trạch và Giao Sắc ở chung để hầu hạ.
Từ đó về sau đôi bên về ở riêng, khi nào có việc chi cần mới sang đàm luận, mỗi lần gặp nhau họ chào hỏi lễ nghi rất minh bạch.
Vệ Dõng Đạt muốn chiêu tập anh hùng, nên không thèm cướp giựt tiền của khách đi đường nữa, chỉ ra tay sát hại bọn tham quan ô lại và những kẻ trọc phú ác tâm để lấy của nuôi quân mà thôi. Vì thế nhân dân cảm phục vô cùng. Còn mẹ con Doãn Phu nhơn cũng mừng vì đặng chỗ yên thân, nhưng còn lo một nỗi là Hoàng Phủ Thiếu Hoa hiện giờ không biết lành dữ thế nào…
Bây giờ xin nhắc lại việc Khâm sai bị tử trận, rồi quân lính thất kinh bỏ tù xa vỡ chạy đến Thanh Châu vào báo cho quan Tổng binh tại đó hay:
- Tướng giặc tại Xuy Đài sơn tên Vệ Dõng Đạt đã đón đường giết chết Khâm sai và cứu mẹ con Doãn Phu nhơn đem về núi rồi.
Tổng binh Thanh Châu nghe báo, giựt mình nói:
- Thế thì bọn giặc Xuy Đài sơn này chính là thân đảng với Hoàng Phủ Thiếu Hoa rồi, nếu không, ai lại dám giết Khâm sai của triều đình? Việc này ta cần phải dâng biểu về triều gấp mới được.
Nói rồi liền biểu tỏ hết sự tình, sai người tức tốc đệ về kinh.
Ngày kia, vua Thành Tôn lâm triều, bá quan quì lạy tung hô vừa xong, bỗng có quan Huỳnh môn bước ra quì tâu:
- Nay có quan Tổng binh Thanh Châu là Châu Triệu Lân dâng biểu về cấp báo rằng: quan Khâm sai Trần Thiên Tích phụng mạng triều đình đi bắt gia quyến Hoàng Phủ Kính, Hoàng Phủ Thiếu Hoa biết trước trốn đi mất, chỉ bắt được vợ hắn và một người con gái mà thôi. Chẳng dè khi giải về kinh, đi ngang qua núi Xuy Đài bị tướng giặc là Vệ Dõng Đạt chận đường giết chết Khâm sai và nhiều tướng sĩ, cướp đoạt tù xa. Hiện giờ còn mấy tên hiệu úy đã về đến, chúng còn đứng ngoài Ngọ môn chờ lịnh.
Vua Thành Tôn nghe tâu, truyền đòi vào ngay. Mấy tên hiệu úy vào quì mọp trước kim giai, đem hết đầu đuôi mọi việc tâu lên cho vua rõ.
Vua Thành Tôn nghe xong, cho mấy tên hiệu úy lui ra rồi đòi quan hàn lâm học sĩ lên điện, bảo đọc tờ biểu chương cho các quan văn võ đồng nghe. Đọc xong, vua nổi giẩn lôi đình phán:
- Xưa ngay, hễ quân lục lâm cường đạo là chỉ chuyên cướp giựt của cải thôi chứ có đời nào lại dám xâm phạm đến quan quân của triều đình, nay xảy ra cớ sự này thì chắc chắn bọn Xuy Đài sơn này là thân đảng của Hoàng Phủ Kính đó. Nếu không trừ đặng chúng thì làm sao giữ yên quốc pháp! Chẳng hay chư khanh nghĩ sao? Và có ai dám cử binh đi dẹp quân cường đạo Xuy Đài sơn không?
Vua phán dứt lời, bỗng thấy hữu Thừa tướng Kỳ Thạnh Đức và tả Thừa tướng Lương Giám cùng bước ra một lượt quì tâu:
- Việc ấy không nên làm!
Vua Thành Tôn ngạc nhiên hỏi:
- Quân cường khấu dám cả gan xâm phạm đến quan quân của triều đình, cần phải tảo trừ chớ sao hai khanh lại bảo là không nên?
Hai viên Thừa tướng đồng thanh đáp:
- Vẫn biết quân cướp đã xâm phạm đến quan quân của triều đình thì cần phải trừng trị, song Xuy Đài sơn nằm trong địa phận Sơn Đông, tất nhiên khi chúng đánh không lại quân của triều đình ắt phải tư thông với quân Phiên. Lúc ấy bên ngoài có giặc xâm lăng, bên trong bọn cường khấu Xuy Đài sơn công phá thì tỉnh Sơn Đông khó bề giữ yên được, chi bằng hãy tạm để yên cho chúng, đợi khi nào dẹp yên được giặc Phiên sẽ đánh Xuy Đài sơn, thì dù chúng có cánh cũng không thoát khỏi.
Thành Tôn suy nghĩ hồi lâu rồi gật đầu đáp:
- Hai khanh nói thế nghe cũng có lý, vậy thì đợi dẹp yên giặc rồi sẽ đánh lấy Xuy Đài sơn. Nhưng tên Vệ Dõng Đạt này chắc là đồng đảng với Hoàng Phủ Thiếu Hoa, vậy quan Công bộ phải họa hình Thiếu Hoa ban hành khắp thiên hạ để sau ai bắt được thì thưởng trăm lượng vàng ròng, còn ai chấp chứa hoặc biết mà không tố cáo thì phải bị phạt nặng.
Rồi vua Thành Tôn truy tặng cho quan Khâm sai, đồng thời châu cấp tiền bạc cho vợ con những kẻ bị hại về trận Xuy Đài sơn.
Lúc ấy Doãn Thượng Khanh ở lại triều hay được tin ấy thì giận cho Doãn Phu nhơn lắm. Trách cho phu nhơn sao không biết suy nghĩ, theo làm chi với quân cường đạo tại núi non để cho nam nữ hỗn tạp, mang tiếng xấu hổ và cũng có hại cho Hoàng Phủ Thiếu Hoa, không biết bao giờ mới minh oan được.
Xin nhắc lại việc Hoàng Phủ Thiếu Hoa, từ ngày ở tại nhà Hùng Hiệu đến nay không khi nào bước chân ra khỏi cửa, cùng với Hùng Hiệu luyện tập võ nghệ, khi nào buồn lại uống rượu đánh cờ cho giải khuây.
Đêm nằm, Hoàng Phủ Thiếu Hoa thường nghĩ thầm:
“Không biết hiện giờ thân mẫu và hiền tỉ ta ở nơi ngục thất khổ cực đến bực nào, và thân phụ ta bị giam cầm nơi đất địch có đặng bình an không? Còn ta đây hiện nay chắc phải phụ lòng Mạnh Lệ Quân và Lưu Yến Ngọc rồi!”.
Mỗi lần Hoàng Phủ Thiếu Hoa nghĩ vậy, nét mặt chàng âu sầu ảm đạm trông vô cùng thảm não.
Thời giờ thấm thoát quá nhanh, mới đây mà năm cũ đã tàn, năm mới sắp đến. Hôm ấy nhằm Tết Nguyên đánh, Hùng Hiệu cùng Hoàng Phủ Thiếu Hoa uống rượu vui chơi tại thơ phòng, Hùng Hiệu nói với Thiếu Hoa:
- Tôi thiết tưởng quân Phiên biết pháp thuật như vậy thì dầu cho triều đình có đem đại đội binh mã hùng mạnh đến đâu cũng khó nổi cự đương. Quân Phiên mỗi ngày mỗi dữ tợn, tôi e chúng ta đây cũng chưa dễ gì đánh được, chi bằng chúng ta đi tìm một bậc dị nhơn nào học tập tiên thuật, rồi đợi khi nào triều đình đăng bảng cầu hiền, chúng ta sẽ dẹp giặc cứu phụ thân của hiền đệ về.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa gật đầu đáp:
- Lời hiền huynh nói rất hợp ý em, nhưng chúng ta biết đi tìm đâu cho ra dị nhơn bây giờ?
Hùng Hiệu nói:
- Tôi nghe tại thành Võ Xương cách chừng trăm dặm có hòn núi tên là Hoàng Hạc Sơn, trên núi ấy có vị đạo nhơn tên Hoàng Hạc Tiên ông, người tu hành đắc đạo đã thành chánh quả, pháp thuật tinh thông có rất nhiều người đã tìm đến đó để cầu khẩn hỏi việc kiết hung, nhưng hễ ai thành tâm thì mới được gặp, bằng không thì sao tìm thấy. Vậy bây giờ hai ta cứ việc thành tâm ra đi, may ra có thể gặp người.
Nghe nói, Hoàng Phủ Thiếu Hoa mừng rỡ nói:
- Nếu quả có bậc dị nhân như vậy. Để một mình em đi cũng được, chớ như hiền huynh cửa nhà to tát, tiền của rất nhiều mà bỏ ra đi bất tiện lắm. Hơn nữa, gia tẩu còn trẻ tuổi lại đang mang thai, chắc người không bằng lòng cho hiền huynh đi đâu.
Hùng Hiệu bảo:
- Không hề gì đâu! Công việc trong nhà đã có người cai quản nếu ta đi vắng, sổ sách đã có Lữ Trung. Vả lại, nhạc phụ ta là Từ Nhơn Thiện tuy năm nay tuổi đã ngoài năm mươi song vẫn còn tráng kiện. Gia tư giàu có lại nhiều con cháu; ta sẽ qua đó yêu cầu người thường xuyên đến kiểm soát, còn việc trong nhà đã có nội nhơn tôi, người vốn hiểu thông đại nghĩa thế nào cũng bằng lòng cho đi chứ không ngăn cản như hiền đệ tưởng vậy đâu.
Hoàng Phủ Thiếu Hoa nói:
- Thế thì hiền huynh hãy đi bàn thử với gia tẩu xem sao?
Hùng Hiệu khen phải vội đi thẳng vào nhà trong nói với Từ thị:
- Tôi có việc vô cùng trọng yến muốn bàn với hiền thê.
Từ thị hỏi:
- Chẳng hay phu quân muốn bàn việc chi xin cứ dạy.
Hùng Hiệu thong thả ngồi xuống ghế, thuật hết tình hình giặc Phiên lợi hại thế nào cho Từ thị nghe và nói:
- Tôi muốn cùng nghĩa đệ Lữ Lăng đi tầm tiên học thuật, chờ sau này có cơ hội đi dẹp giặc lập công cho đặng phong thê ấm tử, nhưng Lữ Lăng lại sợ e hiền thê không bằng lòng nên tôi phải vào bàn với hiền thê xem ý kiến của hiền thê như thế nào.
Từ thị nói:
- Phận nam nhi việc tang bồng hồ thỉ tôi đâu dám ngăn trở. Nhưng nay tôi đang mang thai nghén trong mình, chẳng biết ngày nào hoa nở nhụy, chỉ sợ không ai trông nom, lại thêm việc nhà vô cùng bận rộn không biết ủy thác cho ai đó thôi.
Hùng Hiệu nói:
- Khi nào hiền thê lâm sản, đã có nhạc mẫu trông nom, còn việc trong nhà ta đã có Lữ Trung coi sóc, lão ta là một tay đắc lực lại trung thành, có lo chi. Tuy vậy, tôi ra đi cũng phải nhờ đến nhạc phụ thường lui tới kiểm soát thì chắc được vẹn toàn.
Từ thị nói:
- Phu quân tính vậy cũng khéo léo lắm, song cần phải thưa lại với song thân thiếp để các người góp phần liệu định mới xong.
Hùng Hiệu gật đầu đáp:
- Hiền thê nói phải lắm, thế nào tôi cũng mời nhạc phụ và nhạc mẫu để thưa cho hai người rõ mọi việc rồi mới khởi hành.
Rồi Hùng Hiệu gọi gia nhơn sai đi mời vợ chồng Từ Nhơn Thiện đến.

TOP

Chương 15

Vì chữ công danh, anh hùng chịu gian khổ,
Tưởng tình chị em, Hoàng hậu cố tâu bày.



.Chỉ một lát sau, hai ông bà nhạc của Hùng Hiệu đến, Hùng Hiệu tiếp vào, lễ phép mời ngồi rồi hối gia nhơn pha trà dâng lên.
Từ Nhơn Thiện hỏi:
- Chẳng hay hiền tế mời hai ta qua đây có việc chi?
Hùng Hiệu liền trình bày ý định mình muốn tầm tiên học thuật và cậy nhạc phụ trông coi việc nhà hộ cho mình, đồng thời gởi gắm vợ nhà cho nhạc mẫu.
Từ Nhơn Thiện nghe xong chưa kịp mở lời thì vợ là Hồ thị đã vội nói:
- Hiền tế đã thi đậu võ cử nhơn rồi có lo gì không lập đặng công danh, cần gì phải đi học tiên thuật? Vả lại, cái sản nghiệp của hiền tế vô cùng lớn lao, khó mà chọn nguời quản lý được, hơn nữa lúc này vợ nhà đang có thai mà bỏ đi sao đành, cứ như ý nghĩ của ta thì hiền tế nên ở nhà an dưỡng phú quí thì hơn.
Hùng Hiệu phân trần:
- Nhạc mẫu chưa rõ đó thôi chứ cái công danh trong nghề khoa cử thật khó nỗi hiển vinh, may mà con đi bình được giặc Phiên thì chẳng những bản thân cùng thân quyến được vinh hiển mà thôi, người đời lại xem con là bậc trượng phu có tài kinh thiên vĩ địa vậy.
Hồ thị nói:
- Nếu hiền tế đã quyết định như vậy thì để ta bàn với con gái ta xem ý nói thế nào đã.
Hùng Hiệu nghe nói liền lui ra, Hồ thị gọi con gái mình đến hỏi:
- Chồng con có ý định như thế, ý con nghĩ sao?
Từ thị thưa:
- Thưa mẹ, theo con nghĩ thì việc làm của chồng con là một việc làm vẻ vang cho tổ tiên, nên để cho chàng đi mới phải.
Hùng Hiệu nghe vợ nói mừng rỡ đi gọi gia nhơn dọn rượu thịt lên mời vợ chồng Từ Nhơn Thiện ăn uống.
Từ Nhơn Thiện vừa nhắp rượu vừa nói:
- Hiền tế đi tìm dị nhơn, may ra có gặp được, học tiên thuật rồi nên trở về ngay đặng lập công danh, chớ nên chậm trễ.
- Dạ, con xin vâng lời nhạc phụ.
- Thế con định lúc nào lên đường?
- Nay công việc nhà đã sắp đặt xong thì chỉ ít hôm nữa chúng con lên đường.
Cơm nước xong, vợ chồng Từ Nhơn Thiện kiếu từ ra về. Trước khi đi, ông bà nhạc không quên chúc rể mình thượng lộ bình an và hứa sẽ trông coi việc nhà chu đáo.
Khi vợ chồng Từ Nhơn Thiện về rồi, Hùng Hiệu mới định chắc năm ngày sau sẽ khởi hành. Trong thời gian này, Hùng Hiệu lo phân công cho từng người trong gia đình, sắp đặt đâu vào đó rồi sáng hôm ấy Hùng Hiệu cùng Hoàng Phủ Thiếu Hoa khăn gói lên đường thật sớm.
Đi chẳng mấy ngày đã đến thành Võ Xương; khi hai người qua khỏi Nam môn chừng trăm dặm thì đến đồng quê quạnh quẽ, không một hàng quán nào cả, hai người phải vào trong xóm để xin ngủ nhờ, đồng thời dọ xem tin tức dị nhơn.
Sau khi hỏi qua mấy người trong xóm, ai cũng bảo rằng “Câu chuyện về dị nhơn thì ai cũng có nghe nói, nhưng chúng tôi ở đây đã lâu mà không đời nào trông thấy dị nhơn cả”.
Một cụ già mỉm cười nhìn hai người, nói:
- Ta khuyên hai người nên lui gót là hơn, chớ nên đi tìm uổng công vô ích.
Hùng Hiệu và Hoàng Phủ Thiếu Hoa vẫn không nản chí đáp:
- Chúng tôi đã quyết chí đi cầu tiên thuật thì dù có hay không và khổ nhọc cách nào chúng tôi cũng không từ.
Mọi người thấy vậy đều cười rộ lên nói:
- Chúng tôi thấy hai ông làm một việc hoài công vô ích nên lấy lời thành thật khuyên hai ông mà hai ông không nghe thì tùy ý vậy.
Hùng Hiệu nói:
- Không phải tôi không tin lời các người, nhưng tấm lòng cầu đạo của anh em chúng tôi khẩn thiết lắm, không thể nào bỏ qua được.
Sáng hôm sau, hai người thức dậy thật sớm. Cơm nước xong, quảy gói lên đường, băng vào con đường vô cùng vắng vẻ, chỉ nghe xung quanh toàn là tiếng chim kêu vượn hú. Đi đến mỏi gối không gặp một bóng người và cũng không thấy thần tiên đâu cả.
Tuy vậy, hai người cũng bền chí đi mãi; hễ đói, giở cơm khô ra ăn, khát xuống khe uống, tối đến, tìm cội cây mà ngủ, dầu gặp phải hổ lang rắn rít cũng chẳng sờn lòng.
Hai người trèo đèo vượt núi chẳng biết bao nhiêu mà kể, chẳng tìm thấy hang động gì cả, chỉ thấy trước mặt mình toàn là cây đá, rừng hoang cỏ rậm mà thôi.
Trải qua tám, chín ngày trường, cả hai đã mỏi mệt, bước đi đã khó khăn. Bỗng một buổi trưa, hai người trông thấy trước mặt có một hòn núi cao lớn khác thường, lại thêm cây cối xinh tươi, bông hoa đua nở, phong cảnh đẹp đẽ vô cùng.
Hùng Hiệu mừng rỡ quay lại nói với Thiếu Hoa:
- Đã mấy ngày ròng hai ta không tìm thấy điều chi lạ, nay gặp quả núi này phong cảnh khác thường, có lẽ thần tiên đã cảm mến tấm lòng thành tầm tiên học đạo của ta mà hiển hiện ra đó chăng?
Hoàng Phủ Thiếu Hoa cũng phụ họa:
- Tôi xem núi này cảnh trí hữu tình chắc là nơi trú ngụ của bậc chân tu, vậy chúng ta hãy cố gắng lên đó xem, may ra có gặp dị nhơn không?
Hùng Hiệu gật đầu đồng ý hai người cố gắng nhảy từ gộp đá này sang gộp đá khác, đi riết hồi lâu xảy thấy một tên đạo đồng đứng giữa lưng chừng núi, trạc độ mười bốn, mười lăm tuổi, đầu cạo chừa hai miếng tóc, vẻ mặt tươi vui; vừa trông thấy hai người, hắn đã chúm chím miệng cười hỏi:
- Ai đó? Có phải Hùng Hữu Hạc và Hoàng Phủ Thiếu Hoa không?
Hai người nghe hỏi đích danh thì thất kinh, vội chắp tay và đồng thanh nói:
- Thưa phải! Chúng tôi chính là Hùng Hiệu và Hoàng Phủ Thiếu Hoa đây. Chúng tôi đã thành tâm lặn lội đến đây cầu tiên thuật xin người ra ơn chỉ giáo cho!
Tên đạo đồng liền chắp tay vái lại và nói:
- Xin nhị vị chớ nhận lầm! Tôi đây chỉ là tên đạo đồng đang hầu sư phụ tôi, người bảo tôi phải xuống núi đón tiếp nhị vị, vì vậy mới biết rõ danh tánh nhị vị, xin nhị vị hãy theo tôi lên núi yết kiến sư phụ.
Hai người nghe nói mừng rỡ bước theo tên đạo đồng bén gót. Đường đi khúc khuỷu quanh co, hồi lâu mới đến một ngôi chùa phía trước có tấm biển đề ba chữ vàng lớn: “Hoàng Hạc Lâu”.
Qua khỏi cửa, tên đạo đồng dắt hai người qua một con đường lót toàn đá trắng, hai bên trông rất nhiều kỳ hoa dị thảo, mùi hương bay phảng phất khiến cả hai cảm thấy như mình đã lạc vào chốn bồng lai.
Đến đây, tên đạo đồng quay lại bảo hai người đứng chờ để hắn vào báo tin.
Một lát sau hắn chạy ra nói:
- Sư phụ cho mời nhị vị vào.
Nói rồi, đạo đồng dắt hai người vào trong. Bên trong, lầu cao vòi vọi sơn son thếp vàng rực rỡ, giữa nhà có một vị đạo nhơn cốt cách khác phàm đang ngồi trên một cái sập bát quái, đôi mắt sáng như sao, đầu đội mão thất tinh, mình mặc bạch hạc hào. Hai người liền quì xuống đồng thnah nói:
- Chúng tôi một lòng muốn lập công danh nên cố tâm tìm đến đây, mong sư phụ rộng lòng chỉ giáo.
Hoàng Hạc Đạo nhơn thong thả mời hai nguời ngồi rồi bảo:
- Hai người đã có lòng vì nước, ta vô cùng mến phục, vậy hãy ở đây cùng ta luyện tập ít ngày rồi ta trao bửu bối cho đặng về lập công danh. Nhưng ta rất cảm thương rồi đây sắt cầm biệt điệu.
(Sở dĩ Hoàng Hạc Đạo nhơn nói vậy là người đã biết rằng: rồi đây vợ của Hùng Hiệu bị chết yểu, tuy sanh đặng một đứa con trai là Hùng Khởi Phụng sau thi đỗ võ Trạng nguyên, nhưng khi lâm bồn, nàng tạ thế, không gặp mặt Hùng Hiệu trong giờ lâm chung, nên người mới nói câu “sắt cầm biệt điệu”).
Hoàng Phủ Thiếu Hoa nghe Đạo nhơn nói vậy làm lạ vội hỏi:
- Sư phụ dạy như vậy chắc là vợ tôi sau này cải giá lấy người khác phải không?
Hoàng Hạc Đạo nhơn lắc đầu bảo:
- Không phải vậy đâu, họ Mạnh vốn người con gái bền lòng trinh liệt, ngươi chớ nên lo ngại.
Nghe vậy, Hùng Hiệu trong lòng nghi hoặc liền xen vào hỏi:
- Sư phụ nói vậy thì chắc vợ tôi ở nhà có việc chi bất trắc rồi chăng?
Hoàng Hạc Đạo nhơn nói:
- Ngươi cũng không nên đi sâu vào vấn đề ấy làm gì, vì thiên cơ bất khả lậu, để ngày sau rồi sẽ biết.
Từ đó, hai người an tâm ở lại chuyên cần học đạo và luyện tập võ nghệ.
Xin nhắc qua việc Lưu Tiệp âm mưu làm cho triều đình nghi kỵ sai quan đi bắt gia quyến Hoàng Phủ Kính đem về kinh gia hình, lão ta mừng lắm, vội viết thư về nhà tỏ cho con thứ mình là Lưu Khuê Bích biết.
Lưu Khuê Bích lòng mừng khấp khởi, liền đem việc này thuật lại cho cả nhà nghe. Giang Tam Tẩu nghe được tin ấy giựt mình kinh hãi, vội vã chạy thẳng đến Hiển Vân các cho Lưu Yến Ngọc hay và bảo:
- Lạ thật, không biết vì sao linh hồn thân mẫu của tiểu thơ lại báo mộng bảo tiểu thơ hãy kết duyên cùng Hoàng Phủ Thiếu Hoa mà bây giờ nhà Hoàng Phủ lại tan nát, làm cho lương duyên của tiểu thơ dang dở thế này?
Lưu Yến Ngọc nghe qua ngồi chết điếng hồi lâu, đôi dòng lệ tự nhiên tuôn xuống như mưa, nàng khóc tức tưởi nói:
- Không dè mẹ tôi báo mộng để hại đời tôi!
Giang Tam Tẩu thấy thế tỏ lời khuyên nhủ:
- Thôi, tiểu thơ cũng không nên lo lắng làm gì, vì việc này ngoài mẹ con tôi ra thì không ai hay biết cả. Thế nào sau này Cố Phu nhơn cũng kén chọn cho tiểu thơ một nơi nương tựa xứng đáng.
Lưu Yến Ngọc lại khóc lớn lên nói:
- Nhũ mẫu nói như thế là lầm rồi! Tôi đây cũng có học sách thánh hiền há lại không biết câu “tùng nhứt nhi chung” hay sao? Vả lại, tôi đã vâng lời mẫu thân tôi kết duyên cùng Hoàng Phủ Công tử, mà nay công tử rủi ro bị hại, tôi không chết theo người được cũng là bất nghĩa lắm rồi, sao lại đi lấy người khác? Nhứt định tôi nguyện thủ tiết thờ chồng nhưng không biết Mạnh Tiểu thơ có thủ tiết đặng hay không?
Giang Tam Tẩu nói:
- Sao Tiểu thơi lại ví mình với Mạnh Tiểu thơ? Vả chăng, Mạnh Tiểu thơ đính uớc kết thân với Hoàng Phủ Thiếu Hoa giữa công thiên, còn tiểu thơ chẳng qua đính ước với nhau trong bóng tối mà thôi. Nếu sau này Lưu Quốc trượng cùng Cố Phu nhơn gạn hỏi tại sao tiểu thơ lại thủ tiết thì tiểu thơ sẽ trả lời ra sao?
Bằng một giọng đanh thép, Yến Ngọc nói:
- Cùng cực mà song thân tôi có gạn hỏi thì nhất định tôi chịu chết chứ không đời nào tôi chịu thất tiết.
Giang Tam Tẩu thấy Yến Ngọc là kẻ khí tiết như vậy, sợ nàng có thể liều mình tự tử nên tỏ lời khuyên giải:
- Tiểu thơ đã có lòng chung thủy như vậy thì lẽ nào trời lại không giúp đỡ. Biết đâu Hoàng Phủ Thiếu Hoa may mắn biết trước trốn đi được rồi sau này cùng tiểu thơ hội ngộ, xin tiểu thơ chớ nên phiền não mà hao tổn tấm thân.
Lời nói của Giang Tam Tẩu như một liều thuốc hồi sinh, khiến Lưu Yến Ngọc đặt bao nhiêu hy vọng ở tương lai. Từ đó nàng cầu trời khẩn phật phò hộ cho Thiếu Hoa được bình yên để cho toại lòng mong đợi.
Cách ít lâu sau, nhân ngày Nguyên đánh, các quan đến chúc thọ Cố Phu nhơn rất đông. Khi các quan về hết, Cố Phu nhơn sực nghĩ một việc, nhìn Lưu Khuê Bích lắc đầu than:
- Năm nay con đã mười bảy tuổi đầu mà không biết gì cả, mẹ nghĩ rất buồn.
Lưu Khuê Bích ngạc nhiên hỏi:
- Mẫu thân nói như vậy là nghĩa gì, thật con không hiểu nổi.
Cố Phu nhơn giải thích:
- Nhà ta vốn là nhà công hầu hiển đạt, mấy năm trước con còn nhỏ chẳng nói làm chi, chứ bây giờ con đã trưởng thành, lại sắp đến tiết Nguyên tiêu, sao con không kêu thợ mả làm đèn để tổ chức cuộc hoa đăng mua vui cho rỡ ràng thiên hạ? Con vẫn mặc nhiên làm lơ, tức là con không biết gì cả?
Lưu Khuê Bích lại nói:
- Con cũng đã nghĩ đến việc ấy. Nhưng con chỉ sợ người ta chê cười rằng nhà ta không xứng đáng bày cuộc hoa đăng đó thôi.
Cố Phu nhơn nghe nói lửa giận bốc lên, bà hằn học:
- Đã nhiều lần ta muốn hỏi vợ cho con mà chỗ nào con cũng không bằng lòng cho nên mãi đến nay vẫn chưa có dâu, thật là hổ thẹn, nay con lại tự hạ giá trị nhà mình như vậy nữa, thật là kẻ bất trị.
Lưu Khuê Bích phân trần:
- Thưa mẹ, không phải con không muốn cưới vợ, song con đã quyết chí, nếu chẳng được cùng Mạnh Lệ Quân kết duyên cầm sắt thì thà con bỏ quá một đời xuân xanh chứ không thèm đi cưới nơi nào nữa cả.
Cố Phu nhơn nghe con nói cũng muốn chiều lòng con, nhưng lại nghĩ thầm:
“ Nay gia quyến của Hoàng Phủ Kính bị hại, nhưng Mạnh Sĩ Nguyên vốn dòng thi lễ, đời nào chịu cải giá cho con? Mà nếu người không bằng lòng cải giá thì làm khổ cho đời con ta biết bao”.
Rồi bà lại nghĩ:
“Chi bằng ta tâu phứt với triều đình, nhờ triều đình giáng chỉ tứ hôn cho Mạnh Lệ Quân kết duyên cùng con ta thì họ Mạnh kia cũng tránh khỏi được tai tiếng”.
Nghĩ đoạn, bà nói với Lưu Khuê Bích:
- Con đã mến nhan sắc của Mạnh Lệ Quân và quyết lấy nàng thì mẹ cũng chiều lòng con. Thôi để mẹ bảo chị con tâu xin Hoàng thượng ngự bút tứ hôn cho Mạnh Lệ Quân được kết duyên cùng con chẳng biết con nghĩ sao?
Lưu Khuê Bích mừng rỡ đáp:
- Nếu con cưới được Mạnh Lệ Quân thì còn gì mãn nguyện cho bằng, nhưng thân mẫu co dâng biểu về triều thì chớ nên nói đến việc bắn sai của con mà mất thể diện. Thân mẫu cứ bảo rằng con và Thiếu Hoa đều bắn trúng đích cả ba phát, song Mạnh Sĩ Nguyên lại sợ oai phong của Hoàng Phủ Kính nên đem gả con cho nhà Hoàng Phủ, và nhờ triều đình đứng trên lẽ công bằng mà giải quyết cho.
Cố Phu nhơn gật đầu rồi theo lời Lưu Khuê Bích thảo ra một tờ biểu đồng thời viết một bức thư riêng gởi cho Lưu Tiệp, dặn Lưu Tiệp bảo con gái là Lưu Hoàng hậu tâu với Thiên tử.
Bà ta viết biểu xong, Lưu Khuê Bích xem qua lấy làm hả dạ, liền gọi tên gia đinh Lưu Thăng vào trao cho hắn tiền lộ phí rất nhiều và căn dặn:
- Ngươi hãy lãnh biểu và thư này lập tức đến kinh đô trao cho phụ thân ta và nhớ khi vào yết kiến người, ngươi hãy nói rằng ta cùng Hoàng Phủ Thiếu Hoa cả hai đều bắn trúng đích ba mũi tên mà Mạnh Sĩ Nguyên lại hứa gả con cho nhà Hoàng Phủ, chớ đừng nói thật ra nhé!
Lưu Thăng lãnh mạng rồi lên ngựa ra roi chạy thẳng về kinh.
Khi Lưu Thăng đến kinh thành, tìm đến Lưu phủ xin vào yết kiến cùng Lưu Tiệp. Lưu Tiệp cho vào, Lưu Thăng vào quì lạy rồi dâng biểu và thư lên.
Lưu Tiệp tiếp lấy xem qua hồi lâu rồi hớn hở bảo:
- Ừ, phải làm như vậy mới rõ cái thế lực của nhà hầu tước chứ!
Rồi truyền cho Lưu Thăng ra hậu dinh nghỉ ngơi, đoạn vào tỏ lại sự tình cho Ngô Thục nương nghe và bảo Ngô Thục nương phải vào cung nói với Lưu Hoàng hậu. Ngô Thục nương vâng lời, sáng hôm sau mang tờ biểu vào cung. Lưu Hoàng hậu ân cần chào hỏi và tiếp đãi trà nước vô cùng trọng hậu.
Hoàng hậu hỏi:
- Gia đình mình độ này có bình an không? Tôi ở trong này nhớ nhung lắm nhưng không thể ra thăm được.
Ngô Thục nương nói:
- Cả nhà đều được bình yên cả, duy chỉ có nhị đệ quốc cựu chưa chốn định hôn nên Cố Phu nhơn phải bảo tôi vào đây nhờ Hoàng hậu tâu cùng Thiên tử, cậy người ngự bút tứ hôn cho.
Vừa nói, Thục nương vừa lấy tờ biểu ra trao cho Hoàng hậu. Hoàng hậu tiếp lấy, vừa xem qua một đoạn đầu đã cau mày hỏi:
- Sao thân mẫu tôi không sớm lo liệu để cho nhị đệ đã mười bảy tuổi đầu mà chưa định nhơn duyên?
Ngô Thục nương nói:
- Xin Hoàng hậu hãy bình tĩnh xem cho hết tờ biểu sẽ rõ chơn tình.
Hoàng hậu xem xong, ra vẻ nghĩ ngợi. Với trí thông minh, Hoàng hậu cũng đoán chắc rằng Lưu Khuê Bích không bắn đích đủ ba phát tên cho nên Mạnh Sĩ Nguyên mới hứa gả con cho nhà Hoàng Phủ.
Tuy nghĩ vậy nhưng Hoàng hậu thương hại cho em mình, bèn nói với Ngô Thục nương:
- Ta đoán chắc việc này do nhị đệ ta quá mê cái nhan sắc của con gái nhà họ Mạnh, nhưng nay Hoàng Phủ Kính đã đầu hàng quân giặc, cả nhà phải mang trọng tội. Mạnh Sĩ Nguyên đã hứa gả lầm làm dang dở cho cuộc đời con gái mình, vậy để tôi tâu cùng Thiên tử ngự bút tứ hôn cho Mạnh Lệ Quân kết duyên cùng nhị đệ, cho nhị đệ ta thỏa lòng.
Ngô Thục nương thấy Hoàng hậu đã bằng lòng, liền cáo từ lui gót. Hoàng hậu nói:
- Hãy ở nán lại đây dự yến tiệc với tôi cho vui sao lại về vội thế?
Ngô Thục nương đáp:
- Tôi rất cảm tạ tấm lòng trọng đại của Hoàng hậu, song chỉ sợ ở lâu Quốc trượng ở nhà trông đợi.
Nói rồi giã từ ra về ngay.
Hôm ấy, khi vua Thành Tôn bãi triều về cung, Lưu Hoàng hậu niềm nở ra tiếp rước vào rồi khiến thế nữ dâng trà. Vua vừa bưng chén trà, Hoàng hậu đã nhìn vua mở miệng cười chúm chím, vua lấy làm lạ hỏi:
- Chẳng hay Hoàng hậu cười chi vậy?
Lưu Hoàng hậu đứng dậy nói:
- Vừa rồi lão mẫu tôi ở Vân Nam có dâng biểu về tâu xin bệ hạ một việc nhưng tôi lại e ngại không dám dâng lên, nên chỉ biết cười mà thôi.
Vua Thành Tôn nói:
- Việc gì, Hoàng hậu cứ nói cho trẫm biết xem nào.
Lưu Hoàng hậu lại nói:
- Nếu bệ hạ vui lòng xá tội thì thần thiếp mới dám tâu.
- Được rồi, không bao giờ trẫm bắt tội Hoàng hậu đâu.
Lưu Hoàng hậu thấy vậy, liền lấy biểu dâng lên và làm ra vẻ ngại ngùng. Vua Thành Tôn tiếp lấy mở ra xem rồi cười gằn nói:
- Lời lẽ trong biểu văn này không thật thà chút nào cả, vì Mạnh Sĩ Nguyên đã ra làm quan đến chức Binh bộ Thượng thơ há lại không biết rõ cái oai phong của Lưu Quốc trượng to lớn đến bực nào sao, sao lại đem con gả cho Hoàng Phủ Kính? Nếu Lưu Khuê Bích mà bắn trúng đích cả ba phát thì nhất định Mạnh Sĩ Nguyên phải gả con cho Lưu Khuê Bích rồi… Căn cứ theo biểu văn này thì trẫm hiểu ngay Lưu Khuê Bích không tài nào bắn đích cả ba phát. Vì vậy, Mạnh Sĩ Nguyên mới dám đem con gái gả cho Hoàng Phủ. Quả thật lời tâu trong biểu văn này dối trá!
Lưu Hoàng hậu nghe vua nói, sợ hãi tâu:
- Bệ hạ nói vậy quả thật là một bực thánh minh, chính lúc nãy thần thiếp vừa tiếp được bức biểu văn của lão mẫu cũng có ý nghi ngờ, nhưng thần thiếp trộm nghĩ, thật đáng thương cho Mạnh Lệ Quân vì lầm mà đính hôn với Hoàng Phủ Thiếu Hoa là dở dang một đời con gái. Vậy nay bệ hạ hãy thương tình cho đứa em của tôi quá say mê nàng họ Mạnh mà hạ bút tứ hôn cho kết duyên cùng Mạnh Lệ Quân thì cả nhà thần thiếp vô cùng đội ơn.

TOP

Chương 16

Vua Thành Tôn ngự bút tứ hôn.
Mạnh Lệ Quân buộc lòng chịu đỡ.



Vua Thành Tôn suy nghĩ hồi lâu, gật đầu nói:
- Vừa rồi quan Khâm sai phụng mạng đi bắt gia quyến Hoàng Phủ Kính, ngờ đâu Hoàng Phủ Thiếu Hoa biết trước, trốn đi biệt tích, nên chỉ bắt được vợ và con gái y thôi. Nhưng khi giả về, đi ngang qua núi Xuy Đài lại bị một toán giặc cướp đón giết chết Khâm sai để cứu lấy mẹ con Doãn thị. Cái tội tày trời của Hoàng Phủ là như thế đó, thế mà họ Mạnh lại lầm gả con để đem tai họa đến cho con mình. Nếu nay trẩm giáng chỉ cho Lưu Khuê Bích được kết duyên cùng Mạnh Lệ Quân thì chẳng những Lưu Khuê Bích được thỏa lòng mà thôi, Mạnh Lệ Quân cũng khỏi mang tiếng xấu. Ngặt một nỗi hiện giờ Lưu Khuê Bích không có chút địa vị nào, nếu trẫm ngự bút tứ hôn thì cũng chẳng vẻ vang gì. Thôi, để trẫm phong cho hắn chức Trấn quốc Đại tướng quân rồi ngự bút tứ hôn mới xứng đáng.
Lưu Hoàng hậu tạ ơn và tâu:
- Bệ hạ có lòng tưởng đến như vậy, cả nhà tôi đội ơn vô cùng… Nhưng tôi e Mạnh Sĩ Nguyên vốn dòng thi lễ có thể người không nghe theo lời giáng của bệ hạ chăng? V