Chào mừng bạn đến với KST !
Bạn chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy bạn chỉ có thể xem các bài viết mà không thể gửi bài trả lời, đặt câu hỏi hoặc tham gia nhiều hoạt động khác trên diễn đàn.
Hãy đăng ký thành viên tại đây, hoàn toàn nhanh chóng, đơn giản và miễn phí.
Chúc bạn một ngày làm việc thành công và tìm được nhiều thông tin bổ ích tại KST!
 15 12
In chủ đề Gửi bài trả lời mới

[Tìm Hiểu] Các Tác Giả

[Tìm Hiểu] Các Tác Giả

Topic này để mọi người cùng tìm hiểu về tác giả họ hâm mộ hoặc tác giả của tác phẩm họ đang đọc.
Nếu mọi người cần biết thông tin về tác giả nào thì post lên đây, hoặc chính các bạn hãy đóng góp tiểu sử của tác giả bạn yêu thích.


Danh sách các tác giả

1. Meg Cabot - trang 1 - post bởi Hannah55
2. Kim Dung - trang 1 - post bởi heoconphaphach
3. Cổ Long - trang 1 - post bởi heoconphaphach
4. Marc Levy - trang 1 - post bởi soibeo
5. O.Henry - trang 1 - post bởi heoconphaphach
6. Banana Yoshimoto - trang 1 - post bởi Hannah55
7. Sidney Sheldon - trang 1 - post bởi sweet_cake0909
8. Aleksandr Sergeyevich Puskin - trang 1 - post bởi Hannah55
9. Arthur Conan Doyle - trang 1 - post bởi heoconphaphach
10. Alfred Hitchcock - trang 2 - post bởi heoconphaphach

edited by axon on 12/7/2008
Nhật ký bình chọn chủ đề này thời gian gần đây
  • axon Tiền -2 Sửa lại tiêu đề nhá, bạn iu 15-6-2008 00:14
  • axon Tiền +10 Excellent. Tk u so much ^^ 15-6-2008 00:13

TOP

Meg Cabot


[Tìm Hiểu] Các Tác Giả - Literature & Poetry - ,


Meg Cabot (Meggin Patricia Cabot) sinh ngày 1/2/1967 tại  Bloomington, IN. Năm 1991, bà nhận bằng cử nhân văn học của đại học Indiana, Bloomington. Ngày 1/4/1993, Meg kết hôn với nhà văn Benjamin D. Egnatz. Bà bắt đầu sự nghiệp viết lách từ năm 1998 và đã nhận được nhiều giải thưởng.
Trước khi xuất bản cuốn sách đầu tiên, Meg nhận công việc trợ lý quản lý ký túc xá của đại học New York. Sau khi sinh sống ở Indiana, California, New York, và Pháp, hiện nay bà đang cư trú tại Key West, Florida.
Meg sáng tác dưới các tên như Meggin Cabot, Patricia Cabot hay Jenny Carol. Các tiểu thuyết của bà thường là theo thể loại hài hước lãng mạn dành cho lứa tuổi teen và người lớn. Tuy nhiên, cũng có 1 số tác phẩm dành cho thiếu nhi. Hầu hết các truyện của bà đều mang vẻ rất nhẹ nhàng, hài hước và như lời tâm sự, rất gần gũi với người đọc.
Hiện nay bà có trong tay gần 50 tác phẩm cho người lớn và teen, bán được năm mươi triệu bản trên khắp thế giới. Đa số các tác phẩm đó trở thành #1 New York Times bestsellers, mà thành công nhất là series truyện Nhật kí công chúa được xuất bản tại hơn 38 quốc gia, và có 2 bộ phim được chuyển thể bởi Walt Disney.
Trích dẫn:
Các tác phẩm:
*Dành cho thiếu nhi: Allie Finkle’s Rules for Girls,phát hành tháng 1/3/2008
*Dành cho tuổi teen:
1. The Princess Diaries series (Nhật kí công chúa)
Dự kiến có 10 tập. Tháng 1/2009 sẽ ra tập cuối cùng.
Hiện ở Việt Nam đang có đến tập 4, do nhà xuất bản trẻ phát hành.

2. The Mediator series (Người trung gian)
Gồm 6 tập đã hoàn tất năm 2004
Ở Việt Nam được xuất bản năm 2006 bởi nhà xuất bản Văn Hóa thông tin.

3. 1-800-WHERE-R-YOU Series

When Lightning Strikes (2/2001)
Code Name Cassandra (8/2001)
Safe House (3/2002)
Sanctuary (9 /2002)
Missing You (12/ 2006)

4.All-American Girl series
All American Girl, 9/ 2002
Ready or Not: An All-American Girl Novel,7/ 2005
....

*Dành cho người lớn:
1.Heather Wells series
Size 12 is Not Fat, 1/ 2006
Size 14 is Not Fat Either, 11/ 2006
Big Boned, 12/2007
Vẫn đang tiếp tục.

2.Queen of Babble series
Queen of Babble, 5/2006
Queen of Babble in the Big City, 6/2007
Queen of Babble Gets Hitched, 6/2008
Vẫn đang tiếp tục.

Cùng 1 số tiểu thuyết ngắn khác.

TOP

Kim Dung



[Tìm Hiểu] Các Tác Giả - Literature & Poetry - ,


KKim Dung tên thật là Tra Lương Dung (Cha Lieng Yung, Louis Cha), sinh vào tháng 2 năm 1924 tại trấn Viên Hoa, huyện Hải Ninh, tỉnh Triết Giang, Trung Quốc, trong một gia tộc khoa bảng danh giá. Ông cố Tra Thận Hành là nhà thơ nổi tiếng đời nhà Thanh, ông nội Tra Văn Thanh làm tri huyện Đan Dương ở tỉnh Giang Tô. Tra Văn Thanh về sau từ chức, đến đời con là Tra Xu Khanh bắt đầu sa sút, Tra Xu Khanh theo nghề buôn, sau sinh sáu đứa con, Kim Dung là con thứ hai.

Thuở nhỏ Kim Dung là một đứa trẻ thông minh, hoạt bát, nghịch nhưng không đến nỗi quậy phá. Ông yêu thiên nhiên, thích nghe kể chuyện thần thoại, truyền thuyết, nhất là về những ngọn triều trên sông Tiền Đường. Đặc biệt ông rất mê đọc sách. Dòng họ Kim Dung có một nhà để sách gọi là “Tra thị tàng thư” nổi tiếng khắp vùng Chiết Tây, chứa rất nhiều sách cổ, những cuốn sách này làm bạn với ông từ rất bé.

Sáu tuổi, ông vào trường tiểu học ở quê Hải Ninh. Ông rất siêng học, lại thêm mê đọc sách nên trở thành một học sinh giỏi của lớp. Thầy dạy văn cho ông lúc bé có Trần Vị Đông, là người rất thương yêu và tin tưởng Kim Dung, đă cùng ông biên tập tờ báo lớp. Một số bài làm văn của Kim Dung, nhờ sự giới thiệu của thầy Đông đă được đăng lên Đông Nam nhật báo, tờ báo nổi tiếng nhất Trung Quốc bấy giờ.

Năm lên tám tuổi, ông lần đầu đọc tiểu thuyết võ hiệp, khi đọc đến bộ truyện Hoàng Giang nữ hiệp của Cố Minh Đạo, cảm thấy rất say mê, từ đó thường sưu tầm tiểu thuyết thể loại này.

Năm 13 tuổi, xảy ra sự biến Lư Câu Kiều, Kim Dung được gửi đến học trường trung học Gia Hưng ở phía Đông tỉnh Chiết Giang. Tuy xa nhà nhưng cuộc sống của ông cũng không khác mấy, ngoài đi học vẫn chúi đầu đọc sách, và vẫn đứng đầu lớp. Một hôm nhân dịp về thăm nhà, ông khoe gia đình cuốn sách Dành cho người thi vào sơ trung, một cuốn cẩm nang luyện thi, có thể coi là cuốn sách đầu tiên của ông, viết năm 15 tuổi và được nhà sách chính quy xuất bản. Đến khi lên bậc Cao trung, Kim Dung lại soạn Hướng dẫn thi vào cao trung. Hai cuốn sách in ra bán rất chạy, đem lại cho ông khoảng nhuận bút hậu hĩnh.

Năm 16 tuổi, ông viết truyện trào phúng Cuộc du hành của Alice có ư châm biếm ngài chủ nhiệm ban huấn đạo, người này tức giận, liền ép hiệu trưởng phải đuổi học ông. Cuộc du hành của Alice tuy đem lại tai hại, nhưng đă cho thấy tài tưởng tượng, cũng như tinh thần phản kháng của Kim Dung, mà sau này thể hiện rất rõ trên các tác phẩm. Ông lại chuyển đến học trường Cù Châu. Tại trường này có những quy định rất bất công với học trò, học sinh không được quyền phê bình thầy giáo, nhưng thầy giáo có quyền lăng nhục học sinh. Năm thứ hai tại trường, ông viết bài Một sự ngông cuồng trẻ con đăng lên Đông Nam nhật báo. Bài báo làm chấn động dư luận trong trường, được giới học sinh tranh nhau đọc. Ban giám hiệu trường Cù Châu đành phải bãi bỏ những quy định nọ. Không những vậy, một ký giả của Đông Nam nhật báo là Trần Hướng Bình do hâm mộ tác giả bài báo, đã lặn lội tìm đến trường học để thỉnh giáo, mà không biết tác giả chỉ là một học sinh.

Năm 1941, chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ, trường Cù Châu phải di dời, ban giám hiệu quyết định cho học sinh lớp cuối tốt nghiệp sớm để bớt đi gánh nặng. Kim Dung cũng nằm trong số đó. Sau ông thi vào học Luật quốc tế tại học viện chính trị Trung ương ở Trùng Khánh. Thi đậu, nhưng để đến được trường phải trải qua nhiều ngày đi bộ.

Tại học viện chính trị Trung Ương, Kim Dung vẫn học rất giỏi, cuối năm nhất ông được tặng phần thưởng cho sinh viên xuất sắc nhất. Thời kỳ này, ông ngoài tham gia viết bình luận chính trị trên các báo, còn bắt tay vào làm cuốn Anh – Hán tự điển và dịch một phần Kinh Thi sang tiếng Anh, hai công trình này về sau dở dang. Ông học lên năm thứ ba thì tại trường bắt đầu nổi lên các cuộc bạo loạn chính trị. Có lần viết thư tố cáo một vụ bê bối trong trường, Kim Dung lần thứ hai trong đời bị đuổi học, năm 19 tuổi.

Sau ông xin làm việc tại Thư viện trung ương. Ở chung với sách, tri thức nâng cao lên rất nhiều. Ngoài đọc sách sử học, khoa học và những tiểu thuyết võ hiệp đương thời, ông còn đọc những cuốn như Ivanhoe của Walter Scott, Ba người lính ngự lâm, Bá tước Monte-Cristo của Alexandre Dumas (cha), những truyện này đã ảnh hưởng đến văn phong của ông. Tại đây ông bắt đầu nảy sinh ý định sáng tác truyện võ hiệp. Ông cũng sáng lập ra một tờ báo lấy tên Thái Bình dương tạp chí, nhưng chỉ ra được một số đầu, số thứ 2 nhà xuất bản không chịu in, tờ báo đầu tiên của ông xem như thất bại.

Năm 1944, ông đến làm việc cho một nông trường ở Tương Tây. Nơi này rất tịch mịch hẻo lánh, đến năm 1946, không chịu nổi ông xin thôi việc, người chủ nông trường không cản được, tiễn ông bằng một bữa thịnh soạn. Mùa hạ năm đó, ông về lại quê cũ ở Hải Ninh, cha mẹ nghe tin ông bị đuổi học, rất buồn. Điều ấy khiến ông quyết tâm ra đi lập nghiệp.

Năm 1946 từ biệt gia đình, ông về Hàng Châu làm phóng viên cho tờ Đông Nam nhật báo theo lời giới thiệu của Trần Hướng Bình, người ngày xưa đã tìm đến trường ông. Ông làm việc rất tốt, tỏ ra có tài thiên phú về viết báo. Năm sau, theo lời mời của tạp chí Thời dữ triều, ông thôi việc ở Đông Nam nhật báo, sang Thượng Hải tiếp tục nghề viết hay dịch thuật từ máy Radio. Chẳng bao lâu ông lại rời toà soạn Thời dữ triều, xin vào làm phiên dịch của tờ Đại công báo. Lúc này anh trai của Kim Dung là Tra Lương Giám đang làm giáo sư ở học viện Pháp lý thuộc đại học Đông Ngô gần đó, ông liền xin vào học tiếp về luật quốc tế.

Năm 1948, tờ Đại công báo ra phụ bản tại Hồng Kông, ông được cử sang làm việc ở đó, dịch tin quốc tế. Trước khi ra đi vài ngày, ông chạy đến nhà họ Đỗ để ngỏ lời cầu hôn cô con gái 18 tuổi, được chấp nhận. Hôn lễ tổ chức trang trọng tại Thượng Hải, người vợ đầu tiên của ông rất xinh đẹp.

Năm 1950, trong cuộc Cải cách ruộng đất ở Trung Quốc, gia đình ông bị quy thành phần địa chủ, cha ông bị đấu tố, từ đó ông mất liên lạc với gia đ́nh. Trong lúc này, vợ ông không chịu nổi cuộc sống ở Hồng Kông, trở về gia đình bên mẹ, không chịu về nhà chồng nữa. Năm 1951 họ quyết định ly hôn.

Năm 1952, ông sang làm việc cho tờ Tân văn báo, phụ trách mục Chuyện trà buổi chiều, chuyên mục này giúp ông phát huy khả năng viết văn của mình hơn, ông rất thích, một phần vì khán giả cũng rất thích. Ông còn viết phê bình điện ảnh. Từ đó dần đi sâu vào lĩnh vực này. Từ 1953, rời Tân Văn báo, bắt tay vào viết một số kịch bản phim như Lan hoa hoa, Tuyệt đại giai nhân, Tam luyến… dưới bút danh Lâm Hoan. Những kịch bản này dựng lên được các diễn viên nổi tiếng thời bấy giờ như Hạ Mộng, Thạch Tuệ, Trần Tứ Tứ… diễn xuất. Được nhiều thành công đáng kể.

Từ khi mới vào làm cho Tân Văn Báo, ông quen thân với La Phù và Lương Vũ Sinh. Đến năm 1955, được hai người ủng hộ và giúp đỡ, ông viết truyện võ hiệp đầu tay là Thư kiếm ân cừu lục, đăng hàng ngày trên Hương Cảng tân báo, bút danh Kim Dung cũng xuất hiện từ đây. Hai chữ "Kim Dung" là chiết tự từ chữ "Dung", tên thật của ông, nghĩa là "cái chuông lớn". Thư kiếm ân cừu lục ra đời, tên Kim Dung được chú ý đến, dần dần, ông cùng Lương Vũ Sinh được xem như hai người khai tông ra Tân phái của tiểu thuyết võ hiệp. Ông viết tiếp bộ Bích Huyết kiếm được hoan nghênh nhiệt liệt, từ đó chuyên tâm vào viết tiểu thuyết võ hiệp và làm báo, không hoạt động điện ảnh nữa.

Năm 1959, cùng với bạn học phổ thông Trầm Bảo Tân, ông lập ra Minh Báo. Ông vừa viết tiểu thuyết, vừa viết các bài xă luận. Qua những bài xă luận của ông, Minh Báo càng ngày được biết đến và là một trong những tờ báo được đánh giá cao nhất. Không như một số tờ báo do ông sáng lập khác, Minh Báo theo ông đến khi kết thúc sự nghiệp.

Năm 1972 sau khi viết cuốn tiểu thuyết cuối cùng, ông đă chính thức nghỉ hưu và dành những năm sau đó biên tập, chỉnh sửa các tác phẩm văn học của mình. Lần hoàn chỉnh đầu tiên là vào năm 1979. Lúc đó, các tiểu thuyết võ hiệp của ông đă được nhiều độc giả biết điến. Các tác phẩm đã được chuyển thể thành phim truyền hình. Năm sau, ông tham gia giới chính trị Hồng Kông. Ông là thành viên của ủy ban phác thảo Đạo luật cơ bản Hồng Kông. Ông cũng là thành viên của Ủy ban chuẩn bị giám sát sự chuyển giao của Hồng Kông về chính phủ Trung Quốc.

Vào tháng 10 năm 1976, sau cái chết đột ngột của con trai trưởng của mình, Kim Dung đã quyết định tìm hiểu nhiều vào các triết lý của tôn giáo. Kết quả là ông tự mình quy y Phật giáo hai năm sau đó.

Năm 1993, ông thôi làm chức chủ bút, bán tất cả các cổ phần trong Minh Báo.

Năm 2006, ông xuất bản cuốn tản văn đầu tiên.

Vinh dự:

Ngoài các tiểu thuyết võ hiệp, ông còn viết các truyện lịch sử Trung Quốc. Ông đã được trao tặng nhiều huân chương danh dự.

Kim Dung đã được trao tặng huân chương OBE của Vương Quốc Anh năm 1981, và Légion d'honneur năm 1982, Commandeur de l'Ordre des Arts et des Lettres năm 2004 của chính phủ Pháp.

Ông cũng là giáo sư danh dự của nhiều trường đại học như Bắc Kinh, Triết Giang, Nam Khai, Hồng Kông, British Columbia cũng như là tiến sĩ danh dự của đại học Cambridge

Tác phẩm:

Kim Dung viết tổng cộng 15 truyện trong đó 1 truyện ngắn và 14 tiểu thuyết. Hầu hết các tiểu thuyết đều được xuất bản trên các nhật báo.

   1. Thư kiếm ân cừu lục (1955)
   2. Bích huyết kiếm (1956)
   3. Xạ điêu anh hùng truyện (1957) - tại Việt Nam được dịch thành Anh hùng xạ điêu.
   4. Thần điêu đại hiệp hay Thần điêu hiệp lữ (1959) .
   5. Tuyết sơn phi hồ (1959)
   6. Phi hồ ngoại truyện (1960)
   7. Bạch mã khiếu tây phong (1961)
   8. Uyên ương đao (1961)
   9. Ỷ Thiên Đồ Long ký (1961)
  10. Liên thành quyết bản dịch của Vô Nại tiên sinh và của Hàn Giang Nhạn (1963)
  11. Thiên long bát bộ bản cũ và bản mới (1963)
  12. Hiệp khách hành (1965)
  13. Tiếu ngạo giang hồ bản cũ, năm (1967)
  14. Lộc Đỉnh ký bản cũ và bản mới (1969-1972)
  15. Việt nữ kiếm (truyện ngắn, 1970)

3 truyện Anh hùng xạ điêu, Thần điêu đại hiệp, Ỷ thiên đồ long ký tạo thành Xạ điêu tam bộ khúc, đọc theo lần lượt. Thiên Long bát bộ cũng có thể coi là mở đầu của bộ ba cuốn truyện trên. Tuyết sơn phi hồ và Phi hồ ngoại truyện cũng đi đôi với nhau vì có cùng các nhân vật.
Nhật ký bình chọn chủ đề này thời gian gần đây
  • Hannah55 Tiền +10 chi tiết thật! Thanks ss! 14-6-2008 11:02

TOP

Cổ Long



[Tìm Hiểu] Các Tác Giả - Literature & Poetry - ,



Cổ Long tên thật là Hùng Diệu Hoa. Năm sinh chưa được xác định, có tài liệu nói ông sinh năm 1936[1], có tài liệu nói năm 1937. Có tài liệu nói ông sinh tại Hồng Kông, có tài liệu nói ông sinh ở Trung Hoa lục địa. Tuy nhiên, quê quán (tổ tịch) của ông là ở Giang Tây (Jiangxi), Trung Quốc.

Năm 1952, Cổ Long theo cha mẹ di cư sang Đài Loan sinh sống. Thời thơ ấu, Cổ Long luôn cảm thấy lẻ loi, cô độc. Do hoàn cảnh khó khăn, ông thường phải chứng kiến cảnh cha mẹ bất hòa, gây gổ với nhau. Sau đó, gia đình tan vỡ, cha mẹ chính thức ly dị. Bởi lý do đó mà ông bỏ nhà, sống một mình tại trấn Thụy Phương, ở ngoại ô quận Đài Bắc, tự lực tìm cách sinh nhai và học hành. Ngay từ thuở nhỏ, Cổ Long đã đọc và rất yêu thích các tác phẩm võ hiệp cổ điển của Trung Quốc. Sau đó mấy năm, ông còn đọc thêm các bộ tiểu thuyết cận đại của Nhật Bản, các tác phẩm văn học của Tây phương.

Cổ Long bắt đầu viết văn từ rất sớm. Từ khi học năm thứ hai ở Bộ Sơ trung, Trường Cao cấp Trung học, phụ thuộc Đại học Sư phạm Đài Loan (tương đương lớp 7 ở Việt Nam), ông đã bắt đầu phiên dịch các tác phẩm văn học ngắn của Tây phương. Bản dịch đầu tiên của ông gửi đăng ở tạp chí Thanh niên Tự do và kiếm được một ít nhuận bút. Tuy nhiên, sự nghiệp văn chương của Cổ Long chính thức bắt đầu là vào thời gian cuối cấp II. Năm 1956, Cổ Long đã viết bài văn "Từ miền Bắc đến miền Nam" gửi đăng ở tạp chí "Ánh mai" (tức "Thần quang" ) do Ngô Khải Vân chủ biên và nhận được khoản nhuận bút kha khá. Bắt đầu từ đó, Cổ Long tiếp tục viết thêm nhiều bộ tiểu thuyết và văn xuôi, tuy nhiên các tác phẩm thuở ấy chỉ thuần về văn học và chủ yếu là viết về tình yêu nam nữ.

Sau khi tốt nghiệp Cấp III tại trường Trung học Thành Công, năm 1957, Cổ Long thi đậu vào Trường Cao đẳng dân lập chuyên khoa Anh ngữ "Đạm Giang", trường này thành lập từ năm 1950, đến 1980 được nâng cấp thành Trường Đại học Đạm Giang. Tuy nhiên, sang năm thứ hai thì Cổ Long nghỉ học, chính thức sống bằng nghề viết văn.

Năm 1960, qua sự động viên và ủng hộ của bạn bè, Cổ Long đã viết bộ Thương khung thần kiếm. Đây là bộ truyện mở đầu cho sự nghiệp tiểu thuyết võ hiệp của ông, vì vậy, kỹ thuật viết không hay, nó giống như là thuật lại sơ lược một câu chuyện.

Trong thời gian 1960-1964, Cổ Long viết được hơn chục bộ truyện võ hiệp nhưng hầu hết đều ở mức trung bình. Chỉ đến năm 1965 thì sự nghiệp mới bắt đầu chín mùi, lúc đó ông có thể viết cùng lúc hai ba bộ tiểu thuyết với nội dung đặc sắc và luôn giao bản thảo sớm hơn thời gian qui định. Mười năm sau, không biết có phải sức khoẻ suy thoái do tửu sắc mà các tác phẩm võ hiệp của ông dần dần mất đi những ý tưởng độc đáo (năm 1977 ông đã phát hiện mình mắc bệnh viêm gan, sức khoẻ ngày càng suy giảm nhưng vẫn cứ tiếp tục uống rượu). Năm 1980, trong khi ăn tiệc ở nhà hàng "Ngâm tùng Các", không biết ông gây xích mích rồi ẩu đã như thế nào mà bị người ta chém. Vết thương khá nặng, làm cho ông mất máu khá nhiều, nghe nói đến 2 lít. Khoảng thời gian đó đến cuối đời, Cổ Long bắt đầu sa sút, luôn nhận tiền nhuận bút trước của các nhà xuất bản nhưng thuờng giao bản thảo trễ hạn. Hoặc tác phẩm mở đầu thì khá nhưng về sau có lẽ do viết tháu để nộp bài cho kịp, vì vậy mà câu chuyện đầu voi đuôi chuột (Hổ đầu xà vĩ). Có đôi lúc Cổ Long lại bỏ dỡ nữa chừng, nhà xuất bản buộc phải tìm những Sinh viên Đại học có khả năng để viết tiếp phần cuối. Lúc ấy trên lĩnh vực tiểu thuyết võ hiệp xuất hiện bút danh "Thượng Quan Đỉnh", đó tuyệt không phải là bút danh của một nhà văn nào mà chính là nhiều sinh viên Đài Loan, người này tiếp nối người kia để viết bổ sung cho tác phẩm của Cổ Long. Việc làm này đưa đến một sự kiện dở khóc dở cười là ở tác phẩm "Kiếm độc Mai Hương", Thượng Quan Đỉnh viết phần cuối càng về sau càng trật bản lề, dẫn đến việc độc giả lo âu nghiêm trọng. Ngay cả Cổ Long, khi xem lại phần viết thêm của Thượng Quan Đỉnh cũng cảm thấy muốn té xỉu. Để sửa sai, Cổ Long phải chấp bút viết lại phần cuối của bộ sách này.

Trong suốt cuộc đời của Cổ Long, có lẽ bị ảnh hưởng từ gia đình mà ông rất sợ cô độc. Bởi thiếu thốn tình yêu thương trong gia đình, ông giao thiệp với bạn bè rất rộng và đối xử với họ rất tốt. Ông uống rượu nhiều và thường kết giao với bạn bè qua bàn rượu, vì vậy mà quan hệ bạn bè của Cổ Long khá phức tạp. Những người bạn cùng học với ông ở Trường chuyên khoa Anh ngữ “Đạm Giang” kể lại rằng ông có quan hệ tốt với bạn học và cũng rất quí trọng tình bạn. Vì vậy mà trong rất nhiều tác phẩm của Cổ Long, tên của các bạn học thời ấy đã được Cổ Long sử dụng làm tên nhân vật, thậm chí là mô tả tướng mạo, tính cách đều rất sát với con người thật.

Cổ Long yêu gái đẹp và quan hệ với rất nhiều cô. Ngay từ thời học sinh đã sống chung với vũ nữ Trịnh Lợi Lợi, có với cô này một đứa con trai. Rồi ông lại say mê vũ nữ Diệp Tuyết, cũng có với cô này một đứa con trai. Sau đó, ông kết hôn với Mai Bảo Châu, là nữ sinh học Cấp III. Do không chịu được tính khí của Cổ Long, dù đã có với ông một đứa con trai, Mai Bảo Châu đã ly hôn với ông. Cuối cùng, Cổ Long kết hôn với Vu Tú Linh và ở với nhau cho đến cuối đời. Ngoài những mối tình chính thức kể trên, Cổ Long cũng âm thầm quan hệ với nhiều người phụ nữ khác.

Tương truyền bút danh "Cổ Long" của ông cũng có liên quan đến một người con gái. Trong khi theo học tại Trường chuyên khoa Anh ngữ "Đạm Giang", lớp của ông có tất cả là 36 học sinh, tuy nhiên trong số đó chỉ có 4 nữ. Trong số 4 nữ sinh ấy, có một cô tên "Cổ Phụng" là đẹp nhất nhưng lại tỏ ra cô độc, rất hiếm khi chuyện trò với các bạn cùng học. Các bạn trai trong lớp thường hay trêu chọc cô gái này, họ đã đặt cho cô ta biệt hiệu là "Chim". Hùng Diệu Hoa cảm thấy yêu thích Cổ Phụng, vì vậy mà chủ động tiếp cận, làm quen. Tuy nhiên, với vóc người lùn thấp (khoảng 1,56 mét), đầu thì to như quả dưa, miệng rộng, mắt hí (các bạn học đặt cho Hùng Diệu Hoa biệt hiệu "Đầu to"), Cổ Phụng không thèm để mắt đến anh chàng này. Sau đó một thời gian, cha của Cổ Phụng qua đời. Hùng Diệu Hoa hay được tin, mặc dù lúc ấy đang mưa to như thác đổ, cũng vội tìm đến nhà Cổ Phụng để an ủi. Lúc Hùng Diệu Hoa đến nhà thăm viếng, vì Cổ Phụng không có người thân nào bên cạnh nên rất xúc động, sà vào lòng của anh ta mà khóc nức nở. Hùng Diệu Hoa cũng liên tưởng đến hoàn cảnh đáng thương của gia đình mình nên cùng khóc theo cô nàng. Lát sau, Cổ Phụng bớt đi đau thương thì chợt thấy mình đang tựa vào lòng của Hùng Diệu Hoa, vì vậy mà vội xê người ra và lên tiếng mời Hùng Diệu Hoa rời khỏi nhà mình. Hùng Diệu Hoa cố gắng giãi bày, nói rõ tình cảm của mình đối với Cổ Phụng là chân thành và sâu sắc, tuy nhiên Cổ Phụng vẫn không chấp nhận. Hùng Diệu Hoa bèn lập lời thề là nếu không được sống chung với Cổ Phụng, ông sẽ làm cho cô ta mãi mãi nhớ đến mình. Từ đó, Hùng Diệu Hoa bắt đầu sử dụng bút danh "Cổ Long" (Không rõ có phải vì câu chuyện này mà Hùng Diệu Hoa bỏ học vào năm thứ hai ở Trường chuyên khoa Anh ngữ "Đạm Giang").

Khoảng thời gian 1984-1985, sức khoẻ của Cổ Long sa sút trầm trọng. Ông mất vào lúc 18 giờ 3 phút ngày 21 tháng 9 năm 1985 vì biến chứng của bệnh sơ gan, làm cho tĩnh mạch trướng thực quản vỡ ra, xuất huyết trầm trọng. Trong đám tang của Cổ Long, những người phụ nữ từng quen biết hoặc quan hệ với ông trước đây đều không có ai đến viếng (Người ta kể rằng: câu nói cuối cùng của Cổ Long trước lúc qua đời là "Sao chẳng có người bạn gái nào đến thăm tôi cả?"). Lúc hạ huyệt, bạn bè của ông lần lượt đem rượu đến đặt bên quan tài. Có lẽ họ đã bàn bạc với nhau từ trước, vì vậy mà người ta đếm được có tất cả 48 chai rượu loại XO (là loại rượu Cổ Long thích uống nhất khi còn sống), tương ứng với số tuổi mà Cổ Long hưởng dương (dựa theo chi tiết này thì Cổ Long sinh vào năm 1937).

Sự nghiệp sáng tác của ông tạm chia ra làm 3 giai đoạn đó là :

    * Cổ Long thời kỳ đầu (1960-1964): giai đoạn này Cổ Long còn chưa định hình được phông cách, không có gì đặc biệt.
    * Thời kỳ đỉnh cao (1965-1979): Giai đoạn này ông viết rất sung sức, có những tác phẩm, những nhân vật tuyệt vời đưa Cổ Long lên ngang hàng với Kim Dung trở thành 2 tác giả lớn nhất của làng tiểu thuyết võ hiệp.
    * Giai đoạn cuối (1980 đến cuối đời): Lúc này sức khẻo của ông đã rất kém, hậu quả của lối sống phóng túng. Ông viết không còn nhiều ý tưởng, ảm đạm và thường không còn viết được trọn một tác phẩm nào.

Tác phẩm

Có tài liệu nói Cổ Long đã viết 82 tác phẩm, tuy nhiên con số này bao gồm cả những truyện giả Cổ Long, hoặc Cổ Long nhờ người khác viết cho kịp giao nhà xuất bản. Khi biên tập bộ Cổ Long tác phẩm tập, Hội Văn học võ hiệp Trung Quốc đã xác định con số 69 tác phẩm.

Tiểu thuyết của ông mang phong cách hiện đại, tính triết lý sâu sắc, rất khác biệt với các võ hiệp tiểu thuyết gia cùng thời và trước đó. Truyện của ông hoàn toàn hư cấu về thời gian và không gian nhưng tâm lý và quan hệ của các nhân vật trong truyện lại rất thật. Cổ Long không miêu tả kỹ về xuất thân và võ công mà xoay quanh nội tâm của các nhân vật, thường thì họ không phải những mẫu anh hùng điển hình toàn diện, mà là một con người thực, có tốt có xấu, có lúc sai có lúc đúng, ham mê tửu sắc giống như bản thân Cổ Long. Kết thúc truyện của ông đôi khi rất dở dang nhưng chính sự dở dang đó đã để lại nhiều suy nghĩ trong lòng người đọc, giúp chúng ta hiểu ra được nhiều điều.

   1. Nguyệt dị tinh tà, 月異星邪 Yue Yi Xing Xie (Strange Moon, Evil Star)
   2. Đại nhân vật, 大人物 Da Ren Wu (Great Hero) - 32 hồi
   3. Thương khung thần kiếm 蒼穹神劍 Cang Qiong Shen Jian - 10 hồi
   4. @ Thái hoàn khúc 彩環曲 Cai Huan Qu - 12 hồi
   5. Du hiệp lục 遊俠錄 You Xia Lu (Wandering Hero) - 8 hồi
   6. Võ lâm ngoại sử hay Võ lâm tuyệt địa 武林外史 Wu Lin Wai Shi (The Legend of Wulin) - 44 hồi
   7. Sở Lưu Hương hệ liệt 楚留香系列 Chu Liu Xiang Xi Lie (The Adventures of Chu Liu Xiang) - viết trong thời gian 1968 - 1979
         1. Huyết hải phiêu hương, 血海飄香 Xie Hai Piao Xiang (Fragrance in the Sea of Blood), 1968 - 27 hồi
         2. Đại sa mạc, 大沙漠 Da Sha Mo (Vast Desert), 1969 - 36 hồi
         3. Họa mi điểu, 畫眉鳥 Hua Mei Niao (The Thrush), 1970 - 36 hồi
         4. Quỷ luyến hiệp tình, 鬼戀傳奇 Gui Lian Chuan Ji (The Legend of the Ghost Lover), 1970 - 12 hồi
         5. Biên bức hiệp 蝙蝠俠 Bian Fu Xia (Bat Hero), 1971 - 23 hồi
         6. Đào hoa truyền kỳ, 桃花传奇 Tao Hua Chuan Ji (Legend of the Peach Blossom), 1972 - 15 hồi
         7. Tân Nguyệt truyền kỳ, 新月傳奇 Xin Yue Chuan Ji (Legend of the New Moon), 1978 - 12 hồi
         8. Ngọ dạ lan hoa, 午夜蘭花 Wu Ye Lan Hua (Midnight-Blooming Orchid), 1979 - 14 hồi
   8. Đại kì anh hùng truyện 大旗英雄傳 Da Qi Ying Xiong Chuan (The Legend of the Hero's Banner) - 44 hồi
   9. Đa tình kiếm khách vô tình kiếm, 多情剑客无情剑 Duo Qing Jian Ke Wu Qing Jian (Sentimental Swordsman, Ruthless Sword) - 1970; 89 hồi
  10. Đổ cục hệ liệt 賭局系列 Du Ju Xi Lie (Gambling House Series) - 34 hồi
  11. Lưu tinh, hồ điệp, kiếm, 流星.蝴蝶.劍 Liu Xing. Hu Die. Jian (Meteor. Butterfly. Sword) - 29 hồi
  12. Danh kiếm phong lưu, 名劍風流 Ming Jian Feng Liu (The Sword and the Exquisiteness) - 40 hồi
  13. Phi đao hựu kiến phi đao, 飛刀,又見飛刀 Fei Dao, You Jian Fei Dao (Flying Dagger, Again Meet Flying Dagger) - 12 hồi
  14. Na nhất kiếm đích phong tình, 那一劍的風情 Na Yi Jian De Feng Qing (Swordplay) - 31 hồi
  15. Phong linh trung đích đao thanh, 風鈴中的刀聲 Feng Ling Zhong De Dao Sheng (Wind Chimes and the Sound of Saber) - 25 hồi
  16. Đại địa phi ưng, 大地飛鷹 Da Di Fei Ying (Flight of the Great Eagle)
  17. Cô tinh truyện, 孤星传 Gu Xing Chuan (Lone Star Story)
  18. Anh hùng vô lệ, 英雄無淚 Ying Xiong Wu Lei (Hero without Tears)
  19. Hoán hoa tiển (tẩy) kiếm lục 浣花洗劍錄 Hua Xi Jian Lu (Sword Bathed in Flowers)
  20. Hộ hoa linh, 護花鈴 Hu Hua Ling
  21. Tuyệt đại song kiêu, 绝代双娇 Jue Dai Shuang Jiao (The Legendary Twins)
  22. Kiếm khách hạnh 劍客行 Jian Ke Hang (Swordsman's Honor)
  23. Kiếm huyền lục 劍玄錄 Jian Xuan Lu (Legend of the Black Sword)
  24. Tuyệt bất đê đầu 絕不低頭 Jue Bu Di Tou (The Proud)
  25. Lục Tiểu Phụng hệ liệt, 陆小凤系列 Liu Xiao Feng Xi Lie (The Adventures of Liu Xiao Feng) - viết trong thời gian 1976 - 1981
         1. Lục Tiểu Phụng truyền kỳ, 陆小凤传奇 Liu Xiao Feng Chuan Ji (The Legend of Liu Xiao Feng) - 1976
         2. Tú hoa đại đạo, 繡花大盜 Xiu Hua Da Dao (Embroidery Bandit) - 1976
         3. Tiền chiến hậu chiến, 決戰前後 Jue Zhan Qian Hou (Before and After the Duel) - 1976
         4. Ngân câu đổ phường, 银钩赌坊 Yin Gou Du Fang (The Silver Hook Gambling House) - 1977
         5. U Linh sơn trang, 幽靈山莊 You Ling Shan Zhuang (Stealth Mountain Village) - 1977
         6. Phụng vũ cửu thiên, 鳳舞九天 Feng Wu Jiu Tian (The Phoenix Dances for Nine Days) - 1978
         7. Kiếm thần nhất tiếu, 劍神一笑 Jian Shen Yi Xiao (Laughter of the Sword God) - 1981
  26. Phiêu hương kiếm vũ 飄香劍雨 Piao Xiang Jian Yu (Fragrant Sword Rain)
  27. Phiêu hương kiếm vũ tục 飄香劍雨續 Piao Xiang Jian Yu Xu (Fragrant Sword Rain Continued)
  28. Tình nhân tiễn, 情人箭 Qing Ren Jian (Lover's Arrow)
  29. Cửu nguyệt ưng phi, 九月鷹飛 Jiu Yue Ying Fei (Nine Moons, Flying Eagle)
  30. Thất chủng võ khí, 七种武器之 Qi Zhong Wu Qi Zhi (The Seven Weapon Series)
         1. Trường sinh kiếm, 长生剑 Chang Sheng Jian (Immortal Sword)
         2. Bích ngọc đao, 碧玉刀 Bi Yu Dao (Jasper Saber)
         3. Khổng tước linh, 孔雀翎 Kong Que Ling (Peacock Tail Feathers)
         4. Đa tình hoàn, 多情环 Duo Qing Huan Passionate Ties
         5. Ly biệt câu, 离别钩 Li Bie Gou (Farewell, Enticement)
         6. Bá vương thương, 霸王枪 Ba Wang Qiang (The Overlord's Spear)
         7. Quyền đầu, 拳頭 Quan Tou (Knucklehead)
  31. Thất sát thủ, 七殺手 Qi Sha Shou (Seven Murderous Hands)
  32. Thất tinh long vương, 七星龍王 Qi Xing Long Wang (Seven Star Dragon King)
  33. Thất hồn dẫn, 失魂引 Shi Hun Yin (Guide to Lost Souls)
  34. Biên thành lãng tử, 边城浪子 Bian Cheng Lang Zi (Bordertown Wanderer)
  35. Tam thiếu gia đích kiếm, 三少爺的劍 San Shao Ye De Jian (Third Young Master's Swords)
  36. Thiên nhai minh nguyệt đao, 天涯明月刀 Tian Ya Ming Yue Dao (Midnight, Bright Moon, Saber)
  37. Tương phi kiếm 湘妃劍 Xiang Fei Jian Madame Xiang's Sword
  38. Bạch ngọc lão hổ, 白玉老虎 Bai Yu Lao Hu (House of White Jade and Tigers) - 9 hồi
  39. Tiêu thập nhất lang, 萧十一郎 Xiao Shi Yi Lang (The Eleventh Son)
  40. Huyết anh vũ, 血鸚鵡 Xie Ying Wu (Blood Parrot)
  41. Bích huyết tẩy ngân thương, 碧血洗银枪 Bi Xue Xi Yin Qiang (Silver Spear Cleansed in Blood), 1977 - 39 hồi
Nhật ký bình chọn chủ đề này thời gian gần đây
  • axon Tiền +10 well done. 15-6-2008 00:28

TOP

http://www.livres-a-gogo.be/bio/photos/marc_levy.jpg

[Tìm Hiểu] Các Tác Giả - Literature & Poetry - ,

[Tìm Hiểu] Các Tác Giả - Literature & Poetry - ,

Marc Levy (sinh ngày 16 tháng 10 năm 1961, tại Boulogne-Billancourt, nước Pháp) là nhà văn người Pháp gốc Do Thái. Ông đã học ở trường Đại học Paris-Dauphine và sinh sống tại Hoa Kỳ từ năm 1984 đến năm 1991. Tại đây, ông đã đặt nền tảng cho hai công ty - 1 đặt cơ sở tại California và 1 ở Colorado - chuyên về đồ họa tin học. Vào năm 1991, ông hợp tác lập ra một công ty thiết kế và xây dựng ở trong nước mà sau này đã trở thành một trong những hãng kiến trúc dẫn đầu ở Pháp.

Marc Levy viết quyển tiểu thuyết đầu tiên của mình với tên Et si c'était vrai... (Và nếu như chuyện này là có thật hay còn gọi là " nếu em không phải một giấc mơ "), vào năm 1998. Ông viết cuốn sách này cho con trai mình, khi đã là một thương gia thành công. Năm 1999, sau khi bán bản quyền film Et si c'était vrai... cho hãng Dreamworks, ông kết thúc công việc ở hãng kiến trúc để theo đuổi sự nghiệp viết văn của mình. Năm 2001, ông cho xuất bản quyển sách thứ hai, Où es-tu? (Em ở đâu?), tiếp theo là quyển Sept jours pour une éternité... (Bảy ngày cho mãi mãi) vào năm 2003, La prochaine fois (Kiếp sau) vào năm 2004 và quyển Vous revoir (Gặp lại em) vào năm 2005. Năm 2005 cũng là năm trình chiếu bộ phim Just like Heaven (Như một giấc mơ) của hãng Dreamworks - phỏng theo tiểu thuyết Et si c'était vrai... bởi các diễn viên chính: Reese Witherspoon và Mark Ruffalo.

Tác phẩm

    * Et si c'était vrai... - 1999
    * Où es-tu ? - 2001
    * Sept jours pour une éternité... - 2003
    * La prochaine fois - 2004
    * Vous revoir - 2005
    * Mes amis, mes amours - 2006
    * Les enfants de la liberté - 2007

Phim phỏng theo tác phẩm

    * Just like heaven (Như một giấc mơ) - 2005 - dựa theo tiểu thuyết "Et si c'était vrai..."

Tác phẩm đã dịch ra tiếng Việt

    * Nếu em không phải một giấc mơ (Et si c'était vrai...)
    * Bảy ngày cho mãi mãi (Sept jours pour une éternité)
    * Kiếp sau (La prochaine fois)
    * Gặp lại (Vous revoir)
    * Bạn tôi, tình tôi (Mes amis, mes amours)
    * Em ở đâu (Où es-tu?), 2007.

Năm cuốn sau do Nhà xuất bản Hội Nhà văn và Công ty Nhã Nam xuất bản.

Vài cột mốc trong cuộc đời:

- 16 October 1961: Sinh ra tại Boulogne Billancourt
- 1969: Học tiểu học ở Beaulieu sur Mer
- 1973: Trở về Paris
- 1979: Tham gia Red Cross - (Urban Emergency Unit)
- 1982: Học ĐH ở Paris (Paris-Dauphine)
- 1983: Mở cty đầu tiên ở pháp
- 1984: Đến Mỹ
- 10/1989: Louis ra đời (con trai Levy)
- 1991: Sáng lập Eurythmic-Cloiselec
- 1998: Viết If Only It Were True
- Tháng 10/2000: Bán bản quyền sách cho DreamWorks.
- 17/1/2000: Xuất bản quyển tiểu thuyết đầu tiên ở Pháp, If Only It Were True
- Tháng 11/2001: Xuất bản cuốn tiểu thuyết thứ 2, Will You Be There?
- Tháng 10/2001 -> 4/2002: Viết kịch bản đầu tiên, A Deux Pas de Chez Toi
- Tháng 2/2003: Xuất bản cuốn tiểu thuyết thứ 3, Seven Days for an Eternity
- Tháng 5/2003: Đồng tác giả (với Sophie Fontanelle) tuyển tập truyện ngắn Short Stories for Freedom for Amnesty International
- Mùa thu năm 2003: Chuyển thể một truyện ngắn thành phim
- Tháng 3/2004: PXuất bản cuốn tiểu thuyết thứ 4, In Another Life
- Tháng 6/2005: Xuất bản cuốn tiểu thuyết thứ 5, Finding You
- Tháng 9/2005: Ra mắt phim Just Like Heaven chuyển từ tiểu thuyết Nếu em không phải là giấc mơ.
- Tháng 7/2006: Xuất bản cuốn tiểu thuyết thứ 6 London, Mon Amour
- Tháng 5/2007: Xuất bản cuốn tiểu thuyết thứ 7 Children of Freedom.
- Tháng 5/2008: Xuất bản cuốn tiểu thuyết thứ 8 All Those Things We Never Said
- Tháng 7/2008: Ra mắt phim chuyển thể từ tiểu thuyết Bạn tôi tình tôi


credit: wiki, marclevy.info (Translated by soibeo)

Trích dẫn:
Nhà văn Pháp Marc Levy: Tôi bắt đầu từ câu chuyện kể cho con...

Quỳnh Như

[Tìm Hiểu] Các Tác Giả - Literature & Poetry - ,
Nhà văn Pháp Marc Levy (Ảnh do Marc Levy cung cấp)

Nhận cú điện thoại Marc Levy gọi lúc 1 giờ sáng từ London, tôi có cảm giác như nền đất dưới chân mềm nhũn ra. Cứ ngỡ như mình hãy còn là một cô bé mới lớn, lần đầu tiên được tiếp xúc với thần tượng. Đầu dây bên kia là Marc Levy, tiểu thuyết gia người Pháp của những cuốn tiểu thuyết lãng mạn đang được các quý bà, quý cô khắp thế giới say sưa bàn tán quanh bàn cà phê.

Thực ra Marc Levy cũng không phải là thần tượng của tôi. Tôi chỉ yêu mến văn chương cũng như những câu chuyện tình yêu đẹp lấp lánh như pha lê của ông. Giọng nói trầm ấm của người đàn ông này khiến tôi cảm thấy lâng lâng kỳ lạ. Một sức quyến rũ mê hồn từ lối phát âm tiếng Anh đặc trưng kiểu Pháp. Từ trước đến nay, tôi vẫn tin rằng giọng nói của một người có thể chuyển tải thông tin về tính cách của người đó. Giọng Marc trầm ấm và du dương như văn của ông. Tôi ngạc nhiên khi Marc gọi tên Việt Nam của tôi, vốn rất khó phát âm đối với người nước ngoài một cách chuẩn xác. "Quỳnh Như, hy vọng cô chưa ngủ, cô muốn bắt đầu cuộc phỏng vấn của chúng ta  như thế nào?".

Đêm ấy, sau cuộc đàm thoại với Marc, tôi không ngủ được. 4 giờ sáng, tôi email cho ông liền một mạch 20 câu hỏi khác. Khoảng hơn một tháng sau, Marc Levy gởi cho tôi một đĩa CD thu âm những câu trả lời cho tôi bằng chính giọng nói của ông. Đĩa CD còn kèm theo những bức hình ông chụp bên bàn cà phê buổi sáng. Nhìn dấu bưu điện, tôi biết rằng Marc gởi đĩa chiếc đĩa này từ văn phòng của mình ở London. Sau đây là một số câu trả lời của Marc, trích ra từ CD này và một cuộc trao đổi khác nữa giữa chúng tôi:

* Bước ngoặt nào đã dẫn ông đến nghiệp văn chương với tác phẩm đầu tay Nếu em không phải là giấc mơ?

- Mọi chuyện bắt đầu vào những đêm tôi kể chuyện cho đứa con trai tên Louis của tôi trước giờ nó đi ngủ. Mỗi đêm, tôi phải bịa ra phần tiếp theo của câu chuyện tối hôm trước. Thằng bé rất chăm chú nghe và dễ dàng phát hiện ra những lỗ hổng mỗi khi tôi quên một chi tiết nào đó. Vậy là khi Louis ngủ say, tôi phải ngồi xuống để viết ra phần nối tiếp cho đêm sau. Cứ mãi như thế cho đến khi thằng bé tròn 9 tuổi. Tôi hiểu rằng Louis càng ngày càng thích thú với tiết mục kể chuyện đêm khuya của cha. Bỗng dưng trong đầu tôi xuất hiện ý nghĩ điên rồ rằng tôi sẽ viết ra một câu chuyện để kể cho nó nghe vào lúc nó là một người đàn ông trưởng thành. Thay vì kể cho con nghe những chuyện thần tiên, tôi sẽ kể một câu chuyện mang tính đời thực hơn. Tôi nghĩ rằng, mấy chục năm sau tôi mới đưa nó cho Louis xem. Tôi hình dung con tôi lúc ấy ắt ở độ tuổi 35-37, hệt như tôi lúc bắt đầu viết ra câu chuyện và chúng tôi sẽ mãi coi nhau như những người bạn thân nhất trên đời. Tiểu thuyết Nếu em không phải là giấc mơ... đã ra đời như thế vào năm 1998.

* Nhưng để  một câu chuyện viết riêng cho con trai trở thành một tiểu thuyết bán chạy không phải điều đơn giản. Bằng cách nào, ông khiến nhà xuất bản lưu ý đến nó?

- Tôi có may mắn là thừa hưởng một chút "mực" trong máu. Cha tôi từng viết một cuốn sách được liệt vào hàng best selling vào năm 1977. Tôi còn có người chị làm nghề viết kịch bản. Chị tôi đã đưa cuốn sách cho nhà xuất bản Éditions Robert Laffont. 8 ngày sau, chị tôi nói nó sẽ được đem đi in. Tôi thậm chí không thể tin nổi và phải tự mình gọi điện đến nhà xuất bản để kiểm tra thông tin. Lúc ấy tôi vừa vui sướng, vừa lo sợ. Dù gì, câu chuyện này tôi viết về người đàn ông mà tôi muốn con trai mình sẽ trở thành sau nhiều năm nữa. Nếu được xuất bản, cuốn sách sẽ chẳng là chuyện riêng tư giữa cha con chúng tôi. Vốn là người nhút nhát,  nên lúc đó tôi cứ băn khoăn mãi việc làm này có đúng đắn không nữa.

* Cuốn Nếu em không phải là giấc mơ đã rất thành công. Phần tiếp theo của nó là Gặp lại cũng được đón nhận rất nồng nhiệt. Hollywood đã gộp 2 phần này để dựng thành phim Just Like Heaven (Như ở thiên đàng) phải không?

- Các vị ở Hollywood làm phim theo phong cách của Mỹ. Tôi nghĩ rằng sách của tôi mà được dựng theo trường phái phim châu Âu thì sẽ khác. Dẫu sao, tôi cũng rất vui khi sách của tôi được dựng thành phim. Tôi cũng có dịp gặp gỡ đoàn làm phim. Tôi nghĩ Reese Witherspoon đóng vai nữ chính trong phim rất đạt. Hiện tại, tôi cũng nghe đâu đó có một dự án làm phim dựa trên cuốn Bạn tôi, tình tôi.

* Thời thơ ấu của Marc Levy như thế nào?

- Gia đình tôi lúc nhỏ không khá giả gì lắm. Sau chiến tranh, bố tôi kiếm sống bằng nghề bán áo sơ mi. Mẹ tôi làm việc cho một công ty bất động sản lúc tôi ra đời. Khi đi học, chưa bao giờ tôi là học sinh giỏi trong lớp. Nói thế không có nghĩa là tôi học dở tệ nhưng tôi hay mơ mộng nhìn qua cửa sổ lúc thầy giảng bài. Tôi trải qua những tháng ngày tuổi thơ tươi đẹp bên bờ biển miền Nam nước Pháp nên tôi yêu biển lắm. Tôi đi mọi nơi trên thế giới này cốt chỉ để tìm ra nơi chốn bình yên để sống nốt quãng đời còn lại.

* Làm thế nào mà ông thu xếp cuộc sống bận rộn của một nhà văn nổi tiếng để làm một người chồng, người cha tốt?

- Tôi là người đàn ông đã có vợ và một con. Tôi chẳng quan tâm mấy đến việc trở thành một nhà văn nổi tiếng. Khi chết, tôi chỉ mong bạn bè và những người thân của tôi nói với tôi rằng tôi đã sống trọn vẹn với nghĩa vụ của một người bạn, người chồng, người cha tốt. Việc cố gắng sống để trở thành người hoàn hảo đối với tôi là một việc nhàm chán hết sức. Tôi không muốn mình là người hoàn hảo.

* Câu hỏi cuối cùng, ông có điều gì muốn nói với độc giả Báo Thanh Niên?  

- Sang năm 2008, chắc chắn tôi sẽ thu xếp thời gian đến Việt Nam để quảng bá cho một cuốn sách mới của mình. Nhưng tôi xin phép chưa thể tiết lộ thời gian cụ thể vì việc chọn ngày giờ đi còn phụ thuộc vào nhiều thứ khác. Tôi sẽ bàn bạc với nhà xuất bản của tôi để thực hiện chuyến thăm đất nước của bạn vào năm nay. Tôi rất tò mò về Việt Nam vì tôi có một cô bạn rất thân tự nhận mình "nghiện" Việt Nam quá đỗi. Cô ấy năm nào cũng đến Việt Nam và khi trở về lại châu Âu sau mỗi chuyến đi cô ấy lại kể cho tôi nghe nhiều câu chuyện lý thú về đất nước này. Hiện tại, tôi đang thực hiện chương trình giới thiệu sách và ký tặng cuốn sách mới có tên Children of Freedom (tạm dịch: Những đứa trẻ của tự do) ở nhiều quốc gia.

Sinh vào ngày 16.10 năm 1961 tại Boulogne-Billancourt, thuộc nước Pháp, Marc Levy là một trong những nhà văn lãng mạn đương thời nổi tiếng nhất của xứ Gaulois. Sách của ông đã được dịch sang 38 ngôn ngữ và tiêu thụ hơn 13 triệu bản trên toàn thế giới. Vài năm trở lại đây, độc giả Việt Nam đã quen thuộc với những tác phẩm bán chạy của Marc Levy được dịch sang tiếng Việt như Nếu em không phải là giấc mơ..., Em ở đâu?, Bảy ngày cho mãi mãi, Kiếp sau, Gặp lại, Bạn tôi tình tôi...
Báo thanh niên

Nhật ký bình chọn chủ đề này thời gian gần đây
  • axon Tiền +10 Excellent 15-6-2008 00:28

TOP

O. Henry



[Tìm Hiểu] Các Tác Giả - Literature & Poetry - ,


O. Henry (tên thật là William Sydney Porter, tên sinh là William Sidney Porter; 1862–1910) là nhà văn Mỹ được xem là một trong số ít cây bút viết truyện ngắn được yêu thích nhất trong mọi thời đại.

O. Henry sinh dưới tên William Sidney Porter tại Greensboro, North Carolina, Hoa Kỳ. Bà mẹ ông qua đời vì bệnh lao khi ông mới được 3 tuổi, và ông theo học tại trường tư do bà cô làm chủ cho đến năm lên 15. Đấy là quá trình giáo dục duy nhất mà ông tiếp nhận được. Ông bổ sung kiến thức của mình bằng cách đọc sách rất nhiều, và cũng bằng cách quan sát cùng lắng nghe những người quanh ông. Sau khi bỏ học, ông làm việc cho hiệu y dược của ông chú.

Năm 1882, khi bắt đầu có triệu chứng bệnh lao lây từ bà mẹ, ông được gửi đến sống trong một trang trại chăn nuôi ở Texas với hy vọng khí hậu nơi đồng nội giúp vượt qua cơn bệnh – tương tự như nhân vật chính trong truyện Hygeia at the Solito. Ít lâu sau, ông đã thử viết những truyện ngắn đầu tay và mấy mẩu truyện vui cười cho các nhật báo miền Tây-Nam Hoa Kỳ. Kế đến, ông làm tại một cơ quan địa chính và lần lượt qua nhiều công việc khác nhau: vẽ kỹ thuật và kiến trúc, thư ký, đầu bếp nhà hàng, làm nhân viên cho công ty địa ốc, xưởng in, v.v. Hầu như từ mỗi ngành nghề, O. Henry đều có thể góp nhặt tư liệu cho các truyện ông viết.

Đến năm 1894, ông lập nên tờ tuần san hài hước The Rolling Stone và làm chủ bút. Tờ báo này không mấy thành công, trở nên chết yểu sau một năm. Ông cũng làm phóng viên cho báo khác và thỉnh thoảng đóng góp vẽ hí họa.

Kế đến, ông làm nhân viên ngân hàng First National Bank ở thành phố Austin, Texas. Năm 1896, nhà nước mở cuộc điều tra vì tình nghi ông biển thủ tiền của ngân hàng. Trước đấy khá lâu, ông đã phản đối là không thể nào cân đối sổ sách kế toán của ngân hàng vì việc quản lý tại đây quá lỏng lẻo. Mặc dù bố vợ ông đã chi trả hộ khoản tiền thất thoát, chính quyền liên bang vẫn muốn truy tố tội hình sự. Nếu ông chấp nhận ra hầu tòa, có lẽ ông đã được tha bổng vì số tiền liên quan chỉ nhỏ nhoi và có thể bào chữa là do lỗi lầm kế toán. Nhưng bạn bè ông khuyên ông nên trốn lánh. Ông nghe theo và bỏ đi đến nước Honduras ở Trung Mỹ – và có tư liệu cho vài truyện phiêu lưu lấy bối cảnh từ vùng đất này.

Sáu tháng sau, nghe tin vợ mình đang đau nặng, ông trở về Mỹ. Nhà cầm quyền đợi đến khi vợ ông qua đời mới đem ông ra xét xử. Đến lúc này thì sự kiện bỏ trốn đi khỏi nước là yếu tố rất bất lợi cho ông. Tuy thế, ông bị kết mức án tù nhẹ nhất có thể được là 5 năm. Trong nhà tù ở thành phố Columbus, Ohio, ông làm dược tá cho bệnh viện nhà tù, có thời giờ sáng tác để gửi tiền cho con gái, và bắt đầu dùng bút hiệu O. Henry. Sau khi đã qua hơn 3 năm trong tù, nhờ tư cách tốt ông được trả tự do sớm vào năm 1901. Ông đến cư ngụ tại thành phố Pittsburgh, Pennsylvania.

Năm sau, ông định cư hẳn tại Thành phố New York, cố giấu tung tích mình là tù phạm cũ. Từ lúc này, các truyện ngắn của ông bắt đầu xuất hiện đều đặn trên các báo hàng ngày và tạp chí. Mười tập truyện lần lượt được ra đời trong thời gian 1904-1910.

Sau những năm tháng cùng quẫn, mặc dù đến lúc này đã trở nên nổi danh và có tiền nhuận bút khá, O. Henry vẫn không được hưởng hạnh phúc vào những năm cuối đời: cuộc hôn nhân thứ hai thiếu hạnh phúc, khó khăn về tài chính vì chi tiêu quá cao, lại thêm tái phát chứng lao phổi lây từ bà mẹ và tật nghiện rượu nhiễm từ ông bố. Ông qua đời một cách khổ sở tại Thành phố New York ngày 5 tháng 6 năm 1910 do bệnh lao cộng thêm chứng xơ gan. Thêm ba tập truyện được ấn hành sau khi ông mất.

Năm 1919, Hội Nghệ thuật và Khoa học (Society of Arts and Sciences) thiết lập "Giải thưởng Tưởng niệm O. Henry" (O. Henry Memorial Awards), hàng năm trao cho những truyện ngắn xuất sắc.

Tại Việt Nam đã có nhiều bản dịch một số truyện ngắn của O. Henry. Gần đây nhất là quyển "Tinh hoa truyện ngắn O. Henry" do Hội Nhà văn xuất bản. Truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng đã được đưa vào chương trình văn học nhà trường.

Tác phẩm:

Có lẽ nhờ cuộc đời phong phú của tác giả nên các truyện ngắn của O. Henry (tổng cộng gần 400 truyện cộng thêm vài bài thơ) cũng thể hiện các nét đa dạng của xã hội Mỹ đương thời. Người ta có thể tìm thấy những nhân vật làm các nghề mà chính tác giả đã trải qua, và còn nữa: chủ cửa hiệu, nhân viên bán hàng, ký giả, họa sĩ, bác sĩ, diễn viên sân khấu, thợ cắt tóc, cảnh sát, thanh tra, dân đi tìm vàng, cũng có những người vô nghề nghiệp vô gia cư, và kể cả kẻ tội phạm và tù nhân.

Những bối cảnh trong các truyện ngắn cũng phong phú, với nhiều truyện lấy Thành phố New York - nơi O. Henry sống tám năm cuối đời ông - làm bối cảnh, cộng thêm những mẩu chuyện phiêu lưu trong vùng Trung và Tây-Nam nước Mỹ. Tất cả đều biểu hiện khung cảnh xã hội kinh tế nước Mỹ vào thời khoảng cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, lúc đường Thành phố New York còn được thắp sáng bằng đèn ga, người còn dùng xe ngựa để di chuyển, nhiều dân chăn bò (cowboy, hay "cao bồi") vẫn còn sống bờ sống bụi và xem pháp luật bằng nửa con mắt, dân đi tìm vàng tự lập nên những thị trấn mới rồi "tự cai tự quản", v.v.

Điểm đặc sắc trong truyện ngắn của O. Henry là những tình tiết ngẫu nhiên, có lúc khắc nghiệt hoặc oái oăm hoặc mỉa mai, nhiều lúc khôi hài hoặc dở khóc dở cười, để rồi kết thúc trong bất ngờ làm người đọc hoặc thích thú nhưng không quá sướng thỏa, hoặc bâng khuâng nhưng không quá nặng nề. Những dư hương nhẹ nhàng như thế đọng trong tâm tư người đọc khá lâu. Có lẽ do vậy mà vài truyện của O. Henry đã được chuyển thể qua sân khấu, sau này là điện ảnh và truyền hình, kể cả sân khấu kịch ở Việt Nam. Riêng truyện A retrieved reform, rút tư liệu từ thời gian tác giả ngồi tù (có ý kiến cho là dựa trên chuyện có thật), được chuyển thành kịch sân khấu rất thành công.

Nhiều người ngạc nhiên về tính đa dạng trong các truyện của O. Henry. Một ngày, khi ngồi với nhà văn trong một hiệu ăn, một người bạn ông đặt câu hỏi thay cho số đông người đọc: làm thế nào ông kết cấu được các tình tiết, ông tìm đâu ra những cốt truyện như thế? Nhà văn đáp: "Từ mọi nơi. Mọi thứ đều mang câu chuyện". Rồi cầm lấy tờ thực đơn trên bàn ăn, ông nói: "Có một câu chuyện trong bản thực đơn này." Đúng như thế: sau đấy ông viết nên truyện Springtime à la carte.

Thời sinh tiền, O. Henry gửi các truyện của ông cậy đăng trên nhiều báo cuối tuần và tạp chí văn học. Các truyện này sau đó được in lại trong những tập truyện ghi dưới đây:

    * Cabbages and Kings
    * The Four Million
    * Heart of the West
    * The Trimmed Lamp
    * The Gentle Grafter
    * The Voice of the City
    * Options
    * Roads of Destiny
    * Strictly Business
    * Whirligigs
    * Sixes and Sevens
    * Rolling Stones
    * Waifs and Strays

Những truyện được ưa thích

    * After twenty years (Sau hai mươi năm): Một trong những truyện lấy bối cảnh Thành phố New York (nơi O. Henry sống tám năm cuối đời ông) được ưa thích nhất.
    * A chaparral prince (Hoàng tử đồng xanh): Chuyện phiêu lưu vùng Viễn Tây thời ấy, vừa hoang sơ, ngang tàng, mà cũng có khí phách anh hùng - pha trộn tai ương và phúc lành, lục lâm và hiệp sĩ.
    * The church with an overshot-wheel (Ngôi giáo đường với cối xay nước): Có người nhận xét "giống như truyện cổ tích". Cốt chuyện dễ thương, và là một trong số ít truyện của O. Henry thể hiện văn tài tả cảnh tuyệt vời.
    * The furnished room (Căn phòng đủ tiện nghi): Truyện được những nhà phê bình nghiêm khắc xem là một trong những truyện nghiêm túc, có giá trị văn học nhất của O. Henry.
    * Georgia's Ruling (Phán quyết của Georgia): Cả trăm năm trước, nước Mỹ rộng bao la vẫn có cơn "sốt đất" tạo ra nhiều vấn đề cho các sở địa chính, nhưng ở đây nằm trong bối cảnh khác: tình cha con mở rộng ra tình người. Ý tình thắm thiết nhưng ngôn từ cô đọng.
    * The gift of the Magi (Món quà của các nhà thông thái): Một trong các truyện của O. Henry được người đọc phương Tây yêu thích nhất, cũng có thể được xem là một trong những truyện ngắn về Giáng Sinh hay nhất mọi thời đại.
    * The green door (Cánh cửa mầu lục): Có ý kiến cho rằng tác giả thiên về tư cách nhà hoạt động xã hội (social activist) qua truyện này.
    * The last leaf (Chiếc lá cuối cùng) được O. Henry sáng tác năm 1944, là một truyện ngắn nổi tiếng được biết đến nhiều nhất, đã được đưa vào sách giáo khoa của nhiều nước để giới thiệu văn học nước ngoài. Truyện nói về cuộc sống khổ cực của những người hoạ sĩ nghèo ở Mĩ. Cuộc sống cơ cực đã khiến Giôn-xi buôn xui với căn bệnh sưng phổi, nhưng nhờ có chiếc lá cuối cùng Giôn-xi đã hồi sinh.
    * A retrieved reformation (Một cuộc đổi đời): Truyện rút tư liệu từ thời gian O. Henry ngồi tù, có ý kiến cho là dựa trên chuyện có thật.
    * The dream (Giấc mộng): Đây là truyện cuối cùng của O. Henry. Tạp chí văn chương Cosmopolitan Magazine đã đặt hàng tác giả viết truyện này, nhưng sau khi nhà văn qua đời (tháng 6 năm 1910), tập bản thảo dang dở được tìm thấy trên bàn làm việc đầy bụi bặm của nhà văn. Truyện ngắn dang dở được ra mắt trên tờ Cosmopolitan Magazine tháng 9 năm 1910.

TOP

Banana Yoshimoto


[Tìm Hiểu] Các Tác Giả - Literature & Poetry - ,


Banana Yoshimoto tên thật là Mahoko Yoshimoto, sinh ngày 24/7/1964 tại Tokyo. Yoshimoto là con gái của Takaaki Yoshimoto, 1 trong những nhà phê bình nổi tiếng và có ảnh hưởng nhất Nhật Bản thập niên 1960. Sinh ra và lớn lên trong gia đình tân tiến, cha và chị gáo đều là những nhà văn được biết đến nhiều, Yoshimoto sớm tiếp thu những tư tưởng thoáng đạt tự do từ khi còn nhỏ.
Bà tốt nghiệp đại học Mỹ Thuật Nihon, chuyên ngành Văn học. Trong suốt thời gian đó, bà lấy bút danh là "Banana" vì bà cho rằng cái tên này vừa "dễ thương" và "không thể hiện rõ giới tính của người viết"
Dù đã rất thành công, Yoshimoto vẫn luôn giữ 1 dáng vẻ bình thường, không khoa trương. Môi khi xuất hiện trước công chúng, bà thường tránh việc trang điểm và ăn mặc rất giản dị. Bà dường như không hề bị ảnh hưởng bởi các nhận xét tiêu cực, luôn giữ bí mật chuyện đời tư và cho người khác biết rất ít về chồng và con trai Manachinko(ra đời năm 2003). Thay vào đó, bà nói về các tác phẩm của mình. Mỗi ngày bà dành nửa tiếng để viết trên máy tính, và bà thừa nhận rằng cảm thấy hơi có lỗi vì chỉ viết các tác phẩm đó để thư giãn. Yoshimoto duy trì 1 trang web dành riêng cho các fan sử dụng tiếng Anh.


Sự nghiệp:
Yoshimoto bắt đầu sáng tác trong khi còn là nữ bồi bàn cho 1 nhà hàng câu lạc bộ Golf lúc 20 tuổi. Bà nói rằng nhà văn Mỹ Stephen King là 1 trong những người có ảnh hưởng nhất tới sự nghiệp của mình. Bà thường lấy cảm hứng từ các tác phẩm không kinh dị của ông. Khi khả năng viết của bà lên tay, bà bị ảnh hưởng bởi Truman Capote và Issac Bashevis Singer.
Tác phẩm đầu tiên, Kichen đã trở thành 1 hiện tượng, với hơn 60 bản in 1 lần ở riêng NHật Bản. Có 2 bộ phim đã dựa vào đó, 1 là bộ phim truyền hình của Nhật, và 1 bộ phim được phát hành rộng rãi hơn sản xuất bởi Hong Kong năm 1997. Bà đã được trao giải Kaien cho tác giả mới xuất sắc lần 6 tháng 11/1987, giải thưởng Umitsubame cho tiểu thuyết đầu tay và sau đó là Giải thưởng văn học Izumi Kyoka vào 1/1988 cho "kitchen" .
Tạm biệt Tsugumi, 1 tác phẩm khác của Banana cũng được chuyển thể thành phim năm 1990 và do đạo diễn Jun Ichikawa chỉ đạo. Cuốn tiểu thuyết nhận được nhiều luồng phản hồi khác nhau.
Các nhà phê bình cho rằng nhiều tác phẩm của bà còn hời hợt và mang tính thương mại, nhưng các độc giả cho rằng đó là những bức ảnh thể hiện sự lùi bước của thế hệ trẻ trong xã hội Nhật hiện đại. Riêng Yoshimoto xác định rõ 2 tư tưởng chính trong tác phẩm mình là " Nỗi mệt mỏi của những người trẻ tuổi  Nhật Bản đương đại" và "Những điều tồi tệ tạo ra 1 cuộc đời". Tác phẩm của bà có thể khá nhẹ nhàng và thoát ly với thực tế, nhưng lại luôn đề cập đến  hệ tư tưởng Nhật Bản truyền thông. Đọc nó ta cảm thấy trong đó có cái gì đó rất sâu sắc, ám ảnh,  1 chút xót xa và hài hước 1 cách u ám, tất cả hòa trộn vào nhau. Mặc dù các nhà phê bình tin rằng Yoshimoto khá "nhẹ ký", nhưng Yoshimoto đã không ngại khẳng định mục tiêu của mình là Giải Nobel văn học.
Yoshimoto có 12 tiểu thuyết và 7 bộ sưu tập các bài luận văn, đề cập đến tình yêu và tình bạn, sức mạnh của gia đình, và nỗ lực chống lại những mất mát trong tâm hồn.

Giải thưởng:
The 39th edition Best Newcomer Artists Recommended Prize (8/1988) cho Kitchen và Utakata/Sankuchuari
The 2nd Yamamoto Shugoro Literary Prize(3/1989) cho Goodbye Tsugumi
The Murasaki-shikibu Prize(1994) Cho tiểu thuyết dài đầu tiên Amrita


[Tìm Hiểu] Các Tác Giả - Literature & Poetry - ,



Các Tác phẩm :

Trích dẫn:
Kitchen_ 1988
Asleep_ 1989
Goodbye Tsugumi_ 1989
NP_ 1990
Lizard_ 1993
Amrita_ 1994
Sly   
Moonlight Shadow   
Rocking On   
Argentina Hag   
Hardboiled & Hard Luck_ 1999

TOP

Sidney Sheldon - hiện tượng của nền văn học Mỹ

Sidney Sheldon
[Tìm Hiểu] Các Tác Giả - Literature & Poetry - ,
Ông sinh tại Chicago, Illinois dưới tên Sidney Schechtel, có bố là người Do Thái gốc Đức, mẹ là gốc Nga.

Ông qua đời tại bệnh viện Eisenhower ở thành phố Rancho Mirage thuộc bang California, Hoa Kỳ và thọ 89 tuổi.

Người đọc biết đến ông như một nhà văn có tài thực thụ với lối viết văn hóm hỉnh nhưng đầy trí tuệ. Những tác phẩm của ông thường viết về những nhân vật thành đạt, nổi tiếng nhưng không có thật và thường là phụ nữ. Lối viết văn phóng khoáng, miêu tả chân thực, hiệu quả, đa số trong các tác phẩm đều đậm chất Mỹ, lạ lẫm với người Á Đông.
Sinh năm 1917, Sheldon thuộc về một thế hệ nhà văn tôn sùng (và cả ghen tỵ nữa) với những tên tuổi nổi tiếng trên văn đàn Mỹ như Steinbeck và Hemingway. Nhưng họ cũng là những người sẵn sàng dựa vào chút tài năng của mình để biến văn đàn thành một sàn kinh doanh nhằm hốt bạc. Thực chất, mẫu hình của Sheldon là Irving Wallace và Harold Robbins. Và những cụm từ được dùng nhiều nhất trong các điếu văn dành cho ông như "ướt át, vô giá trị" đã chứng tỏ, ông là tác giả điển hình của những cuốn tiểu thuyết được người ta ưỡn ẹo đọc trên bãi biển hoặc cạnh các bể bơi.

Những trang viết của Sheldon chưa từng làm hài lòng các nhà phê bình chân chính. Không một đứa con tinh thần nào của ông cơ hồ sống được thêm 100 năm nữa kể từ thời điểm này. Có chăng, lúc đó, ông chỉ còn được người ta nhắc đến như một ví dụ điển hình cho những tác giả từng lọt vào danh sách best-seller của Mỹ. Chính vì vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi trong bộ sưu tập giải thưởng của Sydney Sheldon, dù đã có giải Oscar và Tony, sẽ không bao giờ có thể có thêm một Pulitzer. Nhưng con số 300 triệu bản sách của ông được tiêu thụ tại 180 quốc gia không hẳn là con số vô nghĩa.

Ít nhất, Sheldon cũng phải có những ảnh hưởng nhất định trên văn đàn Mỹ. Dan Brown có thể phá vỡ kỷ lục cũ của Sheldon với cuốn Mật mã Da vinci 53 tuần năm trên bảng xếp hạng best-seller nhưng Brown chắc chắn mắc nợ người đàn ông đã tạo ra cái mà các nhà phê bình gọi là "thứ rác rưởi lắm người đọc".

Sheldon học ở trường đời nhiều hơn là ở các trường học. Dù trải qua rất nhiều nghề nhưng viết lách vẫn là mục đích hướng tới của ông. Từ một người đọc bản thảo với thu nhập 17 USD mỗi tuần, ông dần trở thành một tác giả kịch bản, nhà văn. Trước khi chết, tải sản của ông lên tới 3 tỷ USD - một con số mà cả Dan Brown lẫn J.K. Rowling đều khó lòng mà theo kịp.

Thế nhưng, ở tuổi 17, sau khi đã trải qua rất nhiều lỗi lầm trong đời. Bi quan với khả năng trở thành nhà văn của mình, Sidney Sheldon rơi vào trầm cảm và đã tìm cách tự vẫn. Nhưng bố ông kịp xuất hiện trước khi nhà văn kịp nhấm nháp một lô thuốc ngủ với rượu whisky. Nếu không, thế giới sẽ không biết đến một "hiện tượng Sidney Sheldon".
Một số tác phẩm
The Naked Face (1970)
Phía bên kia nửa đêm nguyên tác: The Other Side of Midnight (1973)
Người lạ trong gương nguyên tác: A Stranger in the Mirror (1976)
Dòng máu nguyên tác: Bloodline (1977)
Thiên thần nổi giận nguyên tác: Rage of Angels (1980)
Master of the Game (1982)
Nếu còn có ngày mai nguyên tác: If Tomorrow Comes (1985)
Windmills of the Gods (1987)
Cát bụi thời gian nguyên tác: The Sands of Time (1988)
Ký ức nửa đêm nguyên tác: Memories of Midnight (1990)
Âm mưu ngày tận thế nguyên tác: The Doomsday Conspiracy (1991)
Sao chiếu mệnh nguyên tác: The Stars Shine Down (1992)
Không có gì mãi mãi nguyên tác: Nothing Lasts Forever (1994)
Morning, Noon and Night (1995)
The Best Laid Plans (1997)
Hãy kể giấc mơ của em nguyên tác: Tell Me Your Dreams (1998)
The Sky is Falling (2001)
Are You Afraid of the Dark? (2004)
The Other Side Of Me (2005)
Nhật ký bình chọn chủ đề này thời gian gần đây
  • axon Tiền +10 Excellent! 12-7-2008 22:01

TOP

Aleksandr Sergeyevich Pushkin

[Tìm Hiểu] Các Tác Giả - Literature & Poetry - ,


Aleksandr Sergeyevich Pushkin (1799–1837) là đại thi hào, nhà văn, nhà viết kịch người Nga. Ông đã có những đóng góp to lớn trong việc phát triển ngôn ngữ văn học Nga hiện đại.
Ông mất khi mới 37 tuổi nhưng đã để lại nhiều kiệt tác như "Evegny Onegin", "Người con gái viên đại úy", "Con đầm bích", "Boris Godunov"... Ông được coi là biểu tượng của dòng văn học lãng mạn và tả thực nước Nga thế kỷ 19.



Thời thơ ấu
Puskin sinh ngày 6 tháng 6 năm 1799 (26 tháng 5 theo lịch cũ) tại Moskva trong một gia đình quý tộc Nga có nguồn gốc từ thế kỷ 12. Mẹ ông thuộc dòng dõi của Abram Petrovich Gannibal, một người nô lệ da đen của Pyotr Đại đế[1]. Nhờ thông minh xuất chúng và có những đóng góp lớn về quân sự, hàng hải cho nước Nga, Gannibal đã được Pyotr Đại đế nhận làm con nuôi. Thời thơ ấu, trong những tháng hè, Puskin thường tới sống với bà ngoại tại ngôi làng nhỏ Zakharov, gần thành phố Zvenigorod, ngoại ô Moskva. Những tháng ngày êm đềm ở đây về sau này được phản ảnh trong những bài thơ đầu tiên của Puskin ("Thầy tu", 1813; "Bova", 1814; "Lời nhắn cho Yudin", 1815; "Giấc mơ", 1816).


Thời niên thiếu
Sáu tuổi, Pushkin được tuyển vào trường Lyceum Hoàng gia[2], tại Tsarskoe Selo (Hoàng Thôn, nay là thị trấn Pushkin) gần thủ đô Sankt-Peterburg. Thời gian theo học tại đây ông đã chứng kiến cuộc Chiến tranh vệ quốc 1812 của nước Nga chống lại quân Pháp của Napoléon I. Ông có bài thơ nổi tiếng về chủ đề này - "Hồi ức về Hoàng Thôn" (Воспоминание о Царском Селе, 1815). Bài thơ này đã được nhà phê bình văn học Nga nổi tiếng thời bấy giờ là Gavril Romanovich Derzhavin (Гаври́л Рома́нович Держа́вин) coi là một tác phẩm kiệt xuất và đã tôn vinh Pushkin, khi đó mới 16 tuổi, như một nhà thơ lớn của nước Nga.

Sau khi tốt nghiệp Lyceum, Pushkin tích cực tham gia vào các hoạt động văn học nghệ thuật của giới quý tộc trí thức trẻ tại Sankt-Peterburg, lúc bấy giờ đang nỗ lực đấu tranh cho một cuộc cách mạng xoá bỏ chế độ nông nô tại Nga. Thời gian này ông cho ra đời những bài thơ mang tính chính trị như "Gửi Chaadaev" (К Чаадаеву, 1818), "Gửi N. Ya. Plyuskova" (Н. Я. Плюсковой, 1818), "Làng quê" (Деревня, 1819)... Năm 1820 Pushkin cho in bản trường ca đầu tiên của mình - "Ruslan và Lyudmila" (Руслан и Людмила) và ngay lập tức tạo được tiếng vang lớn về phong cách cũng như chủ đề, mặc dù cũng phải chịu sự công kích dữ dội từ phía chính quyền.


Đi đày
Bản viết tay của PushkinMùa xuân 1820, do những bài thơ cách mạng, thống đốc Sankt-Peterburg, bá tước M. Miloradovich, đã quyết định đày Pushkin tới Sibir. Tuy nhiên nhờ sự giúp đỡ và ảnh hưởng của những người bạn (Nikolai Mikhailovich Karamzin, Pyotr Yakovlevich Chaadaev, Fyodor Nikolaevich Glinka), cuối cùng ông chỉ phải chịu mức án nhẹ hơn là bị trục xuất khỏi thủ đô Sankt-Peterburg vô thời hạn. Sau khi rời Sankt-Peterburg, Pushkin đã đi xuống miền nam nước Nga, tới Kavkaz và Krưm, Moldavia, Kiev. Trong thời gian này ông vẫn tiếp tục cho ra đời những tác phẩm mới có ảnh hưởng rất lớn tới văn học Nga thế kỷ 19, như "Người tù Kavkaz" (Кавказский пленник, 1822), "Gavriiliada" (Гавриилиада, 1821), "Anh em lũ cướp" (Братья разбойники, 1822), "Đài phun nước Bakhchisarayskiy" (Бахчисарайский фонтан, 1824). Năm 1823, ở Kishinov, Pushkin bắt tay vào viết tiểu thuyết bằng thơ, kiệt tác "Evgeny Onegin"[3] (Евгений Онегин).

Tháng 7 năm 1824, với đơn xin ân xá, Pushkin được chính quyền cho phép về ở khu trang trại Pskov tại vùng Mikhailovskoe dưới sự kiểm soát của gia đình. Tại Mikhailovskoe ông đã sang tác những tác phẩm lịch sử như vở kịch "Boris Godunov" (Борис Годунов, 1825), "Với biển cả" (К морю, 1826), trường ca "Những người Digan" (Цыганы, 1827).

Năm 1825, trong lần sang thăm trang trại láng giềng, Pushkin đã gặp nàng Anna Kern, người tạo cho ông cảm hứng để sáng tác bài thơ nổi tiếng "Gửi K". Cuối năm 1825 đầu năm 1826 kết thúc chương năm và sáu của "Evgeny Onegin", mà lúc đó Puskin coi là đoạn kết cho phần một của tác phẩm.
Tượng Pushkin ở MoskvaCuối năm 1825, thông qua một số viên chức có thiện chí, Pushkin đã được tiếp cận Sa hoàng Nikolai I để đệ đơn xin ân xá và được Sa hoàng chấp thuận. Tuy nhiên sau thất bại của cuộc Cách mạng tháng Chạp 1825 tại Sankt-Peterburg, chính quyền đã xem xét lại tất cả các ấn phẩm chống đối chính quyền của Pushkin trước đó và quyết định buộc ông bị quản thúc tại gia và có chính sách kiểm duyệt nghiêm khắc các tác phẩm của nhà thơ. Pushkin đã chuyển về Moskva sống trong thời gian này.

Năm 1831 được đánh dấu bởi một sự kiện rất quan trọng trong sự nghiệp của Pushkin, ông đã có buổi gặp gỡ với Nikolai Vasilevich Gogol, một nhà văn Nga nổi tiếng khác. Cả hai nhanh chóng trở thành bạn thân và luôn hỗ trợ nhau trong hoạt động nghệ thuật. Puskin đã có ảnh hưởng lớn tới những nhân vật trong các tác phẩm châm biếm phê phán hiện thực của Gogol.
Cùng năm 1831, Pushkin kết hôn với người đẹp Natalia Goncharova, người đã đem lại cho ông cảm hứng sáng tác lớn lao. Ông hoàn tất chương "Bức thư của Onegin" trong tác phẩm "Evegeny Onegin" và cũng là chương kết của công trình vĩ đại mà nhà thơ đã mất 8 năm để thực hiện.


Trở lại Sankt-Peterburg
Tháng 11 năm 1833, Puskin trở lại Sankt-Peterburg, và cảm thấy cần phải có những thay đổi lớn trong cuộc sống, ông không muốn bị kìm kẹp trong bốn bức tường do chế độ quản thúc.
Nhờ sự sủng ái của Sa hoàng Nikolai I, đầu năm 1834 chế độ quản thúc đối với Pushkin được nới lỏng, tuy nhiên các tác phẩm thơ ca của ông vẫn phải có sự đồng ý của Sa hoàng mới được phát hành. Do vậy hoàn cảnh kinh tế của nhà thơ không được thuận lợi, Pushkin phải đăng ký vào một chức vụ thư lại trong viện biên sử của Sa hoàng. Thời kỳ này, Puskin chuyển hướng sang viết văn xuôi. Ông sáng tác truyện vừa như "Con đầm bích" (Пиковая дама), tiểu thuyết như "Dubrovski" (Дубровский, 1832-33), "Con gà trống vàng", "Người da đen của Pyotr Đại đế" (không hoàn thành)...
Cùng với những người bạn, Pushkin đã thành lập tờ tạp chí Người đương thời. Nhiều tác giả nổi tiếng của Nga thời bấy giờ như Aleksandr Ivanovich Turgenev, N.V. Gogol, V.A. Zhukovski, P.A. Vyazemski đã ủng hộ bằng cách gửi những tác phẩm mới nhất của mình tới cho tạp chí này. Tuy nhiên, độc giả Nga khi đó chưa quen với những bài viết mang tính phê phán hiện thực sâu sắc đã không hưởng ứng tạp chí Người đương thời. Số lượng độc giả quá ít khiến ban biên tập lâm vào tình thế rất khó khăn, họ không có đủ tiền để trang trải cho việc in ấn và thù lao cho cộng tác viên. Hai số cuối của tạp chí có đến quá nửa là sáng tác của Pushkin, phần lớn là để vô danh. Tiểu thuyết "Người con gái viên đại úy" (Капитанская дочка) chính là được in trên tạp chí này.


Đấu súng
Vợ của Puskin, Natalya Goncharova là một phụ nữ đẹp và quý phái vì vậy luôn có rất nhiều người ái mộ, trong số đó có cả Sa hoàng Nikolai I. Trong khi đó Puskin, do nguồn gốc châu Phi của mình, lại có một bề ngoài không mấy bắt mắt. Điều này làm cho Puskin rất khó chịu và không ít lần cảm thấy bực bội.

Năm 1837, do những tin đồn thất thiệt về quan hệ ngoại tình của vợ mình với Georges d'Anthès, một sỹ quan kỵ binh trong quân đội Sa hoàng, Puskin đã thách đấu súng với viên sĩ quan trẻ tuổi này. Cuộc đọ súng đã kết thúc hết sức bi kịch khi cả hai đối thủ đều bị thương, nhưng Puskin đã bị trọng thương và qua đời hai ngày sau đó – ngày 10 tháng 2 năm 1837 (29 tháng 1 trong lịch Julian).

Các Tác phẩm
Thơ
1820 – Ruslan i Lyudmila (Руслан и Людмила); English translation: Ruslan and Ludmila
1820-21 – Kavkazskiy plennik (Кавказский пленник); English translation: The Prisoner of the Caucasus
1821 - Gavriiliada (Гавриилиада) ; English translation: The Gabrieliad
1821–22 – Bratya razboyniki (Братья разбойники); English translation: The Robber Brothers
1823 – Bakhchisaraysky fontan (Бахчисарайский фонтан); English translation: The Fountain of Bakhchisaray
1824 – Tsygany (Цыганы); English translation: The Gypsies
1825 – Graf Nulin (Граф Нулин); English translation: Count Nulin
1829 – Poltava (Полтава); English translation: Poltava
1830 – Domik v Kolomne (Домик в Коломне); English translation: The Little House in Kolomna
1833 - Andjelo (Анджело); English translation: Angelo
1833 – Medny vsadnik (Медный всадник); English translation: The Bronze Horseman

Verse novel
1825-32 – Yevgeny Onegin (Евгений Онегин); English translation: Eugene Onegin

Kịch
1825 – Boris Godunov (Борис Годунов); English translation: Boris Godunov
1830 – Malenkie tragedii (Маленькие трагедии); English translation: The Little Tragedies
Kamenny gost (Каменный гость); English translation: The Stone Guest
Motsart i Salyeri (Моцарт и Сальери); English translation: Mozart and Salieri
Skupoy rytsar (Скупой рыцарь); English translations: The Miserly Knight, The Covetous Knight
Pir vo vremya chumy (Пир во время чумы); English translation: A Feast During the Plague

Văn xuôi
1827 – Arap Petra Velikogo (Арап Петра Великого); English translations: The Negro of Peter the Great, The Moor of Peter the Great
1831 – Povesti pokoynogo Ivana Petrovicha Belkina (Повести покойного Ивана Петровича Белкина); English translation: The Tales of the Late Ivan Petrovich Belkin
Vystrel (Выстрел); English translation: The Shot
Metel (Метель); English translation: The Blizzard
Grobovschik (Гробовщик); English translation: The Undertaker
Stanzionny smotritel (Станционный смотритель); English translation: The Station Master
Baryshnya-krestyanka (Барышня-крестьянка); English translation: The Squire's Daughter
1833 - Pikovaya dama (Пиковая дама); English translation: The Queen of Spades
1834 - Istoriya Pugacheva (История Пугачева); English translation: A History of Pugachev, a historical study of the Pugachev's Rebellion
1834 - Кирджали (Kırcali)short story
1835 - Египетские ночи (Egyptian Nights) unfinished
1836 - Kapitanskaya dochka (Капитанская дочка); English translation: The Captain's Daughter
1837 - Istoriya sela Goryuhina (История села Горюхина); English translation: The Story of the Village of Goryukhino, unfinished
1837 - Сцены из рыцарских времен; English translation: Scenes from the Age of Chivalry
1841 - Dubrovsky (Дубровский); English translation: Dubrovsky, unfinished novel

Tales in verse

1830 - Сказка о попе и о работнике его Балде; English translation: The Tale of the Priest and of His Workman Balda
1831 - Сказка о Царе Салтане; English translation: The Tale of Tsar Saltan
erse1833 - Сказка о мертвой царевне и семи богатырях; English translation: The Tale of the Dead Princess and the Seven Knights
1834 - Золотой Петушок; English translation: The Golden Cockerel
1835 - Сказка о рыбаке и рыбке; English translation: The Tale of the Fisherman and the Fish



Credit to http://vi.wikipedia.org/wiki/Aleksandr_Sergeyevich_Pushkin

TOP

Arthur Conan Doyle



[Tìm Hiểu] Các Tác Giả - Literature & Poetry - ,



Sir Arthur Conan Doyle (22 tháng 5 năm 1859 – 7 tháng 7 năm 1930) là một nhà văn người Scotland nổi tiếng với tiểu thuyết trinh thám Sherlock Holmes, tác phẩm được cho là một sáng kiến lớn trong lĩnh vực tiểu thuyết trinh thám. Các tác phẩm của ông bao gồm nhiều truyện khoa học giả tưởng, tiểu thuyết lịch sử, kịch lịch sử, tiểu thuyết, thơ và bút ký.

Conan xuất phát là tên đệm nhưng ông sử dụng như một phần của họ trong các năm sau này của mình.

Cuộc đời:

Arthur Conan Doyle sinh ngày 22 tháng 5 năm 1859 tại Edinburgh, trong một gia đình Ireland, bố là Charles Altamont Doyle và mẹ là Mary Doyle. Ông đã được gửi tới trường dự bị Dòng Tên Cơ đốc giáo St Marys Hall, Stonyhurst khi lên chín. Sau đó ông vào Trường Stonyhurst, nhưng khi ông rời trường năm 1875, ông đã chối bỏ Thiên chúa giáo để trở thành một người theo thuyết bất khả tri.

Từ 1876 tới 1881 ông học ngành y tại Đai học Edinburgh, gồm cả một giai đoạn làm việc tại thị trấn Aston (nay là một quận của Birmingham). Sau khi học tại trường ông trở thành bác sĩ trên một con tàu tới bờ biển Tây Phi, và sau đó vào năm 1882 ông lập một phòng khám tại Plymouth. Ông hoàn thành luận án tiến sĩ về Tabes Dorsalis năm 1885[1].

Phòng khám của ông không thành công lắm: trong khi chờ bệnh nhân, ông bắt đầu viết truyện. Tiểu thuyết đầu tiên của ông được đăng trên tờ Chambers's Edinburgh Journal khi ông chưa tới 20 tuổi.

Chỉ sau khi dời phòng khám về Portsmouth Doyle mới bắt đầu theo đuổi văn học một cách đúng nghĩa hơn. Tác phẩm đáng chú ý đầu tiên của ông là A Study in Scarlet (Một cuộc nghiên cứu về Màu đỏ), xuất hiện trong cuốn Beeton's Christmas Annual năm 1887 và là lần xuất hiện đầu tiên của nhân vật Sherlock Holmes, người được lấy hình mẫu một phần theo cựu giáo sư đại học của Conan Doyle là Joseph Bell. Đáng ngạc nhiên, Rudyard Kipling đã chúc mừng thành công của Conan Doyle, và hỏi "Ông có thể trở thành bạn tôi không, Bác sĩ Joe?". Tuy nhiên, Sherlock Holmes được phỏng theo nhân vật C. Auguste Dupin của Edgar Allan Poe nhiều hơn. Khi sống tại Southsea ông đã giúp thành lập Portsmouth AFC, câu lạc bộ bóng đá đầu tiên của thành phố. Một chuyện hoang đường thường thấy cho rằng Conan Doyle đã chơi tại Portsmouth F.C. với tư cách thủ môn số 1; tuy nhiên, Conan Doyle đã chơi cho một câu lạc bộ nghiệp dư giải tán năm 1894 và không có liên hệ với Portsmouth F.C. ngày nay vốn chỉ được thành lập vào năm 1898 (thủ môn đầu tiên của đội bóng chuyên nghiệp là Matt Reilly).

Năm 1885 ông cưới Louisa (hay Louise) Hawkins, được gọi là "Touie", người bị bệnh lao và cuối cùng mất năm 1906[2]. Ông cưới Jean Leckie năm 1907, người ông gặp lần đầu và yêu trong cùng năm 1897 nhưng vẫn duy trì quan hệ thuần khiết với bà vì chung thuỷ với người vợ đầu tiên. Conan Doyle có năm con, hai người với vợ đầu (Mary và Kingsley), và ba người với vợ sau (Jean, Denis và Adrian).

Năm 1890 Conan Doyle học về mắt tại Wien; ông tới London năm 1891 để lập một phòng khám nhãn khoa. Ông đã viết trong tiểu sử của mình rằng không một bệnh nhân nào tới phòng khám của ông. Điều này giúp ông có nhiều thời gian hơn trong viết lách và vào tháng 11 năm 1891 ông đã viết cho mẹ: "Con nghĩ tới việc giết Holmes... và giải quyết hắn ta vĩnh viễn. Hắn khiến đầu óc con không thể suy nghĩ được." Mẹ ông đã trả lời "Con có thể làm điều con cho là đúng, nhưng độc giả sẽ không dễ dàng đồng ý đâu." Tháng 12 năm 1893, ông đã làm việc đó để có thể dành nhiều thời gian cho những công việc &q