4.Hội hoạ:
Hội họa Hàn Quốc biểu hiện sức mạnh sáng tạo và khiếu thẩm mỹ của người dân Hàn Quốc.
Hội họa Hàn Quốc đã có những bước phát triển vững chãi trong suốt một thời kỳ lịch sử dài từ thời Ba vương quốc (57 tr.CN - 668 s.CN) cho tới thời hiện đại.
Những tác phẩm hội họa nổi tiếng nhất của thời Ba vương quốc là những bức tranh tường trong những ngôi mộ cổ của thời kỳ Goguryeo được vẽ trên bốn bức tường và trên trần của những phòng an táng. Hội họa của thời kỳ Goguryeo sống động và nhịp nhàng, còn hội họa thời kỳ Silla trầm tư và tỉ mỉ. Nghệ thuật của thời kỳ Silla hưng thịnh sau khi Ba vương quốc thống nhất vào thế kỷ thứ 7.
Vào thời kỳ Goryeo (918 - 1392), hội họa phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau, kế thừa truyền thống nghệ thuật của thời kỳ Silla thống nhất và đánh dấu thế kỷ vàng son của hội họa. Những nghệ sĩ của thế kỷ đã xây dựng nên những bức tranh tường trong các đền và các bức tranh cuốn của Phật giáo, đánh dấu thời kỳ Phật giáo hưng thịnh tại Hàn Quốc.
Trong thời kỳ Joseon, các họa sĩ chuyên nghiệp thường sáng tác những tranh phong cảnh theo yêu cầu của các gia đình quý tộc. Vào cuối thế kỷ 18, các họa sĩ bắt đầu chuyển đề tài sang cuộc sống của con người, có lẽ do ảnh hưởng của phong trào Silhak (Học thuyết thực hành) sau khi các nhà truyền giáo của đạo Thiên chúa truyền bá khoa học và kỹ thuật châu Âu vào Hàn Quốc. Hội họa với những chủ đề thế tục đã tạo nên một xu hướng mới được biết đến như "tranh thế tục".
Kim Hong-do đã phủ lên những bức sơn dầu của mình những quang cảnh từ cuộc sống hàng ngày của tầng lớp quý tộc, nông dân, nghệ sĩ và những người buôn bán. Bằng miêu tả tỉ mỉ mà hài hước các chủ đề đã thể hiện bản sắc dân tộc của Hàn Quốc. Những bức tranh của những nghệ sĩ vô danh, mặc dù kém tinh vi về bút pháp so với các học giả nghệ sĩ của đạo Khổng nhưng đề cập nhiều hơn về cuộc sống thường nhật của những người dân thường, những khát vọng và những ước mơ của họ. Những bức tranh này có màu sắc sinh động và thoát khỏi những sự ràng buộc thông thường.
Sau khi Nhật thôn tính Hàn Quốc bằng vũ lực năm 1910, những phong cách truyền thống của hội họa dần dần bị phong cách tranh sơn dầu của phương Tây làm lu mờ - phong cách này được đưa vào trong suốt thời kỳ Nhật chiếm đóng và sau đó đã trở nên thịnh hành. Sau khi Hàn Quốc được giải phóng khỏi ách thống trị của Nhật năm 1945, một số nghệ sĩ kiệt xuất đã hồi sinh truyền thống hội họa Hàn Quốc. Đồng thời nhiều nghệ sĩ Hàn Quốc được đào tạo ở châu Âu và Hoa Kỳ đã giúp cho quê hương của họ tiến kịp với những xu hướng hiện đại của thế giới bên ngoài.
Vào những năm 1950, một tổ chức của Chính phủ, trung tâm Triển lãm Quốc gia Hàn Quốc đã đóng một vai trò chủ đạo trong bước tiến của nghệ thuật Hàn Quốc. Trung tâm này có một không khí kinh viện và thiên về việc chọn những tác phẩm hiện thực. Những nghệ sĩ trẻ phát huy tính sáng tạo trong những tác phẩm của mình, do đó đã đi tìm một nền nghệ thuật phù hợp với thời đại mới. Từ cuối thập niên 60, hội họa hiện đại Hàn Quốc đã bắt đầu chuyển hướng sang tính trừu tượng hình học. Các nghệ sĩ khác quan tâm sâu sắc về các chủ đề truyền đạt sự thống nhất bẩm sinh giữa người và thiên nhiên.
Hội họa Hàn Quốc những năm 1980 thể hiện chủ yếu những phản ứng đối với chủ nghĩa tân thời của những năm 1970. Trong thời kỳ này, các nghệ sĩ nhận thức sâu sắc rằng nghệ thuật phải truyền đi bức thông điệp về các vấn đề xã hội. Từ đó nảy sinh sự quan tâm đối với các vấn đề của chủ nghĩa tân thời và chủ nghĩa hậu tân thời.
Năm 1995, Hội quốc tế Gwangju Biennale được tổ chức. Sự kiện này đã tạo cơ hội cho các nghệ sĩ Hàn Quốc hiện đại được gặp gỡ những nhân vật hàng đầu của thế giới nghệ thuật quốc tế. Nghệ thuật video của Paik Nam-june là một trong những cuộc trưng bày nổi bật nhất.
Hàn Quốc ngày nay, hội họa mang phong cách truyền thống và phương Tây đều được giảng dạy và được các nghệ sĩ theo đuổi, do đó đã tạo ra những cộng đồng mỹ thuật nhiều phong cách nhất trên thế giới. Nhiều nghệ sĩ hội họa Hàn Quốc đang sáng tạo tại New York , Paris và các trung tâm khác của nghệ thuật đương đại.
5.Âm nhạc và Múa:
Âm nhạc và múa là những phương tiện phục vụ thờ cúng tôn giáo và truyền thống này đã được giữ gìn trong suốt thời kỳ Ba vương quốc.
Hơn 30 nhạc cụ được sử dụng trong suốt thời kỳ Ba vương quốc, và đặc biệt là hyeonhakgeum (đàn tam thập lục sáo đen) do Wang San-ak của thời kỳ Goryeo tạo ra bằng cách thay đổi đàn tam thập lục bảy dây của Trung Hoa thời kỳ nhà Tấn. Một nhạc cụ nổi tiếng nữa là gayageum (đàn tam thập lục của thời kỳ Gaya), được sử dụng dưới triều Gaya (42 - 562) và được Ureuk truyền tới thời Silla. Ngày nay ở Hàn Quốc người ta vẫn chơi loại đàn gayageum 12 dây này.
Goryeo kế tục nghệ thuật âm nhạc truyền thống của thời kỳ Silla trong những năm đầu, sau đó đã phát triển những phong cách phong phú. Có ba phong cách trong âm nhạc Hàn Quốc vào thời kỳ Goryeo: Dangak, một loại nhạc của thời Đường Trung Quốc, hyangak hay nhạc làng quê và aak hay nhạc cung đình. Triều đại Joseon đã kế thừa một số thể loại nhạc của thời kỳ Goryeo sử dụng trong các nghi lễ ngày nay, đặc biệt các loại nhạc có liên quan đến việc thờ cúng tổ tiên.
Cũng như trong âm nhạc, ở đầu thời kỳ Goryeo người ta ưa thích truyền thống múa của thời Ba vương quốc, nhưng sau đó đã thêm nhiều biến thể của nhạc cung đình và nhạc tôn giáo từ triều đại nhà Tống của Trung Quốc.
Trong triều đại Joseon, âm nhạc được tôn vinh như một yếu tố quan trọng của lễ nghi và các buổi lễ. Vào đầu thời kỳ của triều đại này, hai viện phụ trách những vấn đề về âm nhạc đã được thành lập và đã có những nỗ lực soạn lời cho nhạc.
Kết quả là năm 1493 người ta đã soạn ra một bộ quy tắc âm nhạc được gọi là Akhakgwe-beom. Cuốn sách này đã phân loại nhạc chơi tại cung đình thành ba loại: nhạc tế lễ, nhạc Trung Hoa và nhạc bản xứ. Đặc biệt dưới triều vua Sejongs, người ta đã phát triển nhiều loại nhạc cụ mới. Ngoài nhạc cung đình, các truyền thống cũ của nhạc thế tục như dangak và hyangak vẫn tiếp tục.
Múa dân gian, trong đó có múa nông dân, múa pháp sư và múa tu sĩ, đã trở nên phổ biến trong những năm sau của thời kỳ Joseon, cùng với múa mặt nạ được biết đến như sandaenori và múa rối.
Múa mặt nạ, kết hợp múa với lời hát và kể chuyện, trong đó có yếu tố pháp sư và do đó đã thu hút tầng lớp thường dân. Những buổi trình diễn thường được nổi bật bằng những đoạn trào phúng chế giễu giới quý tộc, điều này đã làm khán giả thường dân thích thú rất nhiều.
Cũng như phong cách múa truyền thống, Đạo Khổng và Đạo Phật có ảnh hưởng đáng kể. Đạo Khổng thường có ảnh hưởng chi phối, trong khi đạo Phật cho thấy một thái độ bao dung thể hiện trong các điệu múa cung đình đẹp mắt cũng như trong các điệu múa pháp sư cầu siêu cho người chết.
Một lượng lớn các điệu múa truyền thống đã bị mai một trong thời kỳ thống trị của thực dân Nhật, cũng như sự công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh chóng ở Hàn Quốc trong những năm 1960 và 1970. Vào những năm 1980, người ta mới bắt đầu nghĩ đến việc phục hồi những điệu múa đã bị quên lãng từ lâu này. Trong số 56 điệu múa cung đình, ngày nay người ta chỉ biết đến một vài điệu.
Trong số những điệu múa này có ba điệu Cheoyongmu (Múa mặt nạ) thời kỳ Silla, Hakchum (Múa hạc) thời kỳ Goryeo và Chunaengjeon (Điệu múa chim sơn ca mùa xuân) thời kỳ Joseon.
Tất cả những điệu múa này đều được chính phủ xếp vào loại “Di sản văn hóa phi vật thể” vì sự bất diệt của nó, còn các nhà trình diễn chuyên nghiệp được ban danh hiệu: “Tài sản văn hóa con người”, danh dự cao nhất được trao tặng cho những nghệ nhân bậc thầy của nghệ thuật và thủ công truyền thống.
Múa hiện đại của Hàn Quốc được phát triển rộng rãi với những người tiên phong như Jo Taek-won và Choe Seung-hui - những nghệ sĩ đã hoạt động tích cực trong thời kỳ chiếm đóng của thực dân Nhật. Sau ngày giải phóng, Công ty Ba lê của Hàn Quốc đã được thành lập năm 1950 và trở thành tổ chức đầu tiên đưa lên sân khấu những buổi biểu diễn ba lê và múa hiện đại.
Lần đầu tiên người ta nghe thấy nhạc phương Tây ở Hàn Quốc khi một tập thánh ca Cơ đốc được đưa vào năm 1893 và bắt đầu được giảng dạy tại các trường năm 1904. Changga, một loại hình bài hát mới hát theo các giai điệu của phương tây, đã phát triển trên khắp đất nước.
Cả nước trải qua những thay đổi mạnh mẽ khi buộc phải mở cửa đối với phương Tây và trải qua thời kỳ thống trị kéo dài của thực dân Nhật, người ta hát changga để nâng cao lòng yêu nước, tinh thần độc lập, một nền giáo dục và văn hóa mới. Năm 1919, Hong Nanpa sáng tác Bongseonhwa (Cây bóng nước) theo kiểu mẫu phong cách changga.
Sau khi đất nước được giải phóng năm 1945, dàn nhạc theo phong cách phương Tây đầu tiên của Hàn Quốc được thành lập với tên gọi Hội Dàn nhạc yêu nhạc Hàn Quốc. Ngày nay, có tới gần 50 nhà hát tại Seoul và các tỉnh.
Hiện nay ngày càng có nhiều nhạc sĩ Hàn Quốc biểu diễn tại nước ngoài; họ được khán giả hoan nghênh và nhận được nhiều giải thưởng trong các cuộc thi quốc tế có uy tín. Trong số các nghệ sĩ nổi tiếng nhất có nhà chỉ huy dàn nhạc kiêm nghệ sĩ piano Chung Trio, nghệ sĩ piano Chung Myung-whun, nghệ sĩ vi-ô-lông-xen Chung Myung-wha và nghệ sĩ vi-ô-lông Chung Kyung-wha.
Trong số các ca sĩ, các giọng nữ cao Jo Su-mi, Shin Young-ok và Hong Hye-gyong đã tạo nên một sự hiện diện đầy ấn tượng trong cộng đồng âm nhạc quốc tế. Họ đã đóng các vai chính trong các chương trình của Nhà hát nhạc kịch New York và trên một số sân khấu có tiếng khác, ngoài ra còn tham gia làm các album của các hãng âm nhạc nổi tiếng trên thế giới.
Tháng 8-1997, vở "Nữ hoàng cuối cùng", một vở nhạc kịch miêu tả những năm cuối của nền quân chủ Hàn Quốc và nữ hoàng Myeongseong cuối cùng, đã được trình diễn tại New York và được báo chí Mỹ ca ngợi rộng rãi. Vở nhạc kịch - một thiên anh hùng ca - là một cơ hội quý báu để giới thiệu lịch sử và văn hóa của Hàn Quốc với người Mỹ, đặc biệt những người Mỹ gốc Hàn.
Để gìn giữ và phát triển hơn nữa nghệ thuật âm nhạc và nghệ thuật biểu diễn truyền thống của Hàn Quốc, Trung tâm Quốc gia Nghệ thuật Biểu diễn Truyền thống của Hàn Quốc được thành lập năm 1951. Năm 1993, Chính phủ thành lập Trường Đại học Nghệ thuật Quốc gia Hàn Quốc dạy các ngành nghệ thuật theo hạng quốc tế và bồi dưỡng nghệ sĩ chuyên nghiệp. Trường đại học gồm sáu viện: Nhạc, Kịch, Múa, Nghệ thuật Nghe-Nhìn, Phim & Đa truyền thông, và Nghệ thuật Truyền thống Hàn Quốc. Viện Âm nhạc và viện Múa nằm ở Seocho-dong, trong khi các viện khác nằm tại Seokgwan-dong.
6.Kich và Phim:
Kịch của Hàn Quốc bắt nguồn từ những lễ nghi tôn giáo thời tiền sử, trong khi đó nhạc và múa đóng vai trò khăng khít trong các buổi biểu diễn sân khấu truyền thống. Một ví dụ tiêu biểu của loại hình sân khấu cổ điển này là múa mặt nạ có tên gọi sandaenori hay talchum, một sự kết hợp của các loại hình múa, hát và kể chuyện xen lẫn sự châm biếm và hài hước. Với những biến đổi nhỏ từ vùng này sang vùng khác về lối diễn, lời thoại và trang phục, kịch rất được dân chúng nông thôn ưa thích tới tận đầu thế kỷ 20.
Pansori, bài hát kể chuyện dài dựa trên những tích phổ biến và kkokdugaksinoreum hay kịch rối, do những nghệ sĩ lang thang trình diễn, cũng thu hút số lớn khán giả. Gut, một nghi lễ của pháp sư, là một hình thức sân khấu tôn giáo khác có sức hấp dẫn quần chúng. Ngày nay người ta vẫn tổ chức các buổi biểu diễn tất cả các loại hình này tuy không thường xuyên.
Có một số ít các cơ sở cố định chuyên biểu diễn các loại hình nghệ thuật truyền thống, chẳng hạn Nhà hát Jeong-dong ở trung tâm Seoul . Nhà hát này trình diễn hàng loạt những chương trình nghệ thuật biểu diễn truyền thống, kịch và nhạc.
Buổi biểu diễn singeuk (phong cách kịch mới) đầu tiên vào tháng 12-1902 là một sự chuyển hướng của múa mặt nạ và các loại hình kịch truyền thống khác. Tuy nhiên kịch hiện đại chỉ bắt đầu có chỗ đứng vững chắc sau khi nhà hát đầu tiên theo phong cách phương Tây được khánh thành tại Seoul năm 1908. Nhà hát mang tên Wongaksa đã đi vào hoạt động vào tháng 11-1909.
Những người du học tại Nhật Bản về đã lập các nhóm sân khấu Hyeoksindan và Munsuseong và đưa lên sân khấu kịch sinpa (làn sóng mới). Sinpa là một khái niệm đối lập với kịch gupa (làn sóng cũ) có nghĩa là kabuki của Nhật Bản. Các vở kịch sinpa ngay từ ban đầu bàn về các chủ đề chính trị và quân sự, sau đó đa dạng hóa với các truyện trinh thám, kịch quảng cáo và bi kịch.
Trong khi kịch sinpa tỏ ra là mốt nhất thời, các nghệ sĩ đã tập họp lại quanh nhà hát Wongaksa phát triển làn sóng mới chân chính của kịch, mở màn cho kịch hiện đại. Năm 1922, Towolhoe, một nhóm phái bao gồm những nhân vật tên tuổi của giới sân khấu, đã được thành lập và tổ chức này đã dẫn dắt phong trào kịch nói phát triển trên khắp cả nước với 87 buổi biểu diễn. Kịch nói vẫn phổ biến đến tận cuối những năm 1930, sau đó đã lắng xuống do sự xáo trộn về xã hội và chính trị vào những năm 1940 và 1950. Trong thập kỷ tiếp theo, phong cách này đã bị giảm sút do sự bùng nổ của các rạp chiếu phim và sự xuất hiện của vô tuyến.
Vào giữa những năm 1970, một số những nghệ sĩ trẻ bắt đầu học hỏi, tiếp thu phong cách và đề tài của các tác phẩm sân khấu truyền thống như kịch múa mặt nạ, nghi lễ pháp sư và pansori. Quỹ Văn hóa và Nghệ thuật Hàn Quốc đã chủ trì một hội kịch hàng năm để khuyến khích những chương trình biểu diễn của địa phương. Hiện nay, một số lượng lớn các gánh hát đã hoạt động quanh năm trên khắp đất nước, trình diễn tất cả các thể loại từ hài kịch đến những vở anh hùng ca lịch sử trên các sân khấu nhỏ dọc theo Đường Daehangno ở trung tâm Seoul . Một số các buổi biểu diễn sân khấu đã thành công rực rỡ và được diễn lại nhiều lần.
Bộ phim đầu tiên do Hàn Quốc sản xuất ra mắt công chúng năm 1919. Với tiêu đề "Sự trả thù đứng đắn", đây là một loại kịch động kết hợp với loại hình sân khấu. Bộ phim truyện đầu tiên, "Lời thề dưới trăng" được trình chiếu trên màn ảnh năm 1923. Năm 1926, đạo diễn đầy tài năng Na Un-gyu sản xuất bộ phim "Arirang" được công chúng hưởng ứng nhiệt tình vì nó thể hiện sự phản đối ách áp bức của Nhật thông qua điện ảnh.
Sau chiến tranh Triều Tiên năm 1953, nền công nghiệp phim nhựa trong nước lớn mạnh dần và phát đạt trong khoảng một thập kỷ. Nhưng ngành nghệ thuật thứ bảy này bị đình trệ trong hai thập kỷ tiếp theo do sự phát triển của vô tuyến truyền hình. Từ đầu thập niên 80, ngành công nghiệp điện ảnh đã lấy lại được sức sống chủ yếu nhờ những đạo diễn trẻ đầy tài năng đã mạnh dạn vứt bỏ các khuôn mẫu cũ kỹ trong việc làm phim. Những nỗ lực của họ đã thành công tốt đẹp và những bộ phim của họ đã được công nhận tại những liên hoan phim quốc tế khác nhau, trong đó có liên hoan phim Cannes, Chicago, Berlin, Venice, London, Tokyo, Moscow và nhiều thành phố khác. Chiều hướng tích cực đã tăng lên vào những năm 1990 với ngày càng nhiều các nhà đạo diễn phim Hàn Quốc sản xuất những bộ phim làm lay động trái tim của các công dân trên thế giới dựa trên kinh nghiệm và những tình cảm độc đáo của Hàn Quốc.
Năm 2000, bộ phim “Chunhyangjeon” (Câu chuyện của Chunhyang) do Im Kwon-taek đạo diễn đã trở thành bộ phim đầu tiên của Hàn Quốc được đưa đi tranh giải tại Liên hoan phim quốc tế Cannes . Bốn bộ phim khác cũng được chiếu tại đại hội này trong hạng phim không tranh giải. Bộ phim “Seom” (Đảo) của đạo diễn Kim Ki-duk được gửi đi thi tại Liên hoan phim.
Tiếp theo những bộ phim này, năm 2001, phim "Khu vực an ninh chung" được chọn để đi tranh giải tại Liên hoan phim quốc tế Berlin và một bộ phim khác của đạo diễn Kim Ki-duk, "Địa chỉ vô danh" đã lọt vào vòng xét giải của Liên hoan phim quốc tế Viên.
Đạo diễn Park Chan-wook giành Giải thưởng Lớn nhất của Ban giám khảo tại Liên hoan phim Cannes năm 2004 cho bộ phim "Old Boy". Ông cũng giành Giải thưởng Đạo diễn xuất sắc nhất ở Liên hoan phim quốc tế tại Bangkok cho "Old Boy" năm 2005 và phim "Sự thương cảm Quý bà Vengeance" năm 2006.
Công chúng ngày càng quan tâm đến những bộ phim đã được bình chọn và một số liên hoan phim quốc tế đã được chính quyền tỉnh hoặc các tổ chức tư nhân tổ chức. Trong đó có liên hoan phim quốc tế Pusan, Liên hoan phim kinh dị quốc tế Bucheon, Liên hoan phim quốc tế Jeonju và Liên hoan phim phụ nữ Seoul.
Cũng như tại các quốc gia khác, giới điện ảnh của Hàn Quốc đã cho thấy sự phát triển đáng kể của công nghiệp phim hoạt hình và phim biếm họa. Hơn 200 công ty đang sản xuất loại phim thuộc thể loại hiện đại này.
Các ngành công nghiệp phim nhựa, băng hình, phim hoạt hình và các nội dung truyền trên mạng, được các dịch vụ truy cập Internet tốc độ cao thúc đẩy, đang bùng nổ tại Hàn Quốc.
Vào năm 2003, ngành công nghiệp điện ảnh của Hàn Quốc đã gặt hái được thành công lớn tại các phòng bán vé. Thị phần của các phim trong nước đã vượt trên 53,5% nhờ những bộ phim đạt doanh thu khổng lồ, trong đó có bộ phim "Những người bạn", "Cô gái yêu kiều của tôi" và "Đá mặt trăng". Hàn Quốc đã sản xuất 240 bộ phim (với tổng giá trị sản xuất khoảng 11,2 triệu USD). Các rạp xi nê đã chiếu 65 bộ phim do Hàn Quốc sản xuất.